Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

PHÁT MINH NGUỒN-GỐC NẤM CỦA SIÊU VI & UNG-THƯ



              

Nguyễn Thị Thanh MD.Ph.D.




Từ hơn nửa thế kỷ nay, Y khoa chính thống thế giới đã bỏ ra nhiều công trình nghiên cứu. Những cố gắng vượt bực đã đem đến cho nhân loại biết bao nguồn an ủi và hy vọng. Cũng nhờ vào những phát triễn vượt bực về những cách chẩn bệnh chính xác qua hình ảnh X-quang phối hợp với Tin-học: Phim đồ hình bằng cách chụp cắt lát, siêu âm (scanner, échographie vv.) và những phản ứng của huyết thanh qua sự hiện diện của siêu vi (sérologie virale).


Đặc biệt là những phát triển của môn Sinh Học Phân Tử Của Tế bào (Biologie Moléculaire De La Cellulle) với kính hiển-vi điện-tử, chúng ta đã biết rõ siêu-vi (virus) và cực-siêu-vi (ultravirus) và toàn gia đình bà con gần cùng tất cả những tác động của chúng trên tế bào bị chúng xâm chiếm để sống ký sinh mà gây ra các thứ bệnh nan trị và bệnh ung thư.


Kính hiển vi điện tử đã cho thấy rõ sự biến đổi đột ngột hay sự “đột biến” (mutation) của siêu vi trên tế bào cơ thể để trở thành tế-bào ung thư. Sinh học phân tử đã cho chúng ta quan sát hiện tượng đột biến của siêu-vi, một sự kiện đưa đến sự hình thành ung thư đặc biệt (Sách giáo khoa: “Biologie moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8/1990).


Theo chúng tôi sự đột biến nói trên được sinh ra là do tình trạng suy sụp về sinh lý bất thường của tế bào cơ thể. Ví dụ tế bào đau yếu, bị thương tích, bị dập, bị nhiểm độc hóa chất hay chất độc và tế bào đang trên đường thoái hóa, hấp hối hoặc vừa mới chết (hoặc chết nhưng chưa bị phân hóa).  Do đó sức đề kháng và tính miển nhiễm của tế bào bị yếu kém hay sa sút, suy tàn nặng nề hay triệt tiêu hoàn toàn khiến siêu vi dễ dàng chiếm cứ tế bào để biến nó thành những thành phần quan trọng trong tế bào ung thư.


Và từng nấc thang dẩn dần chúng ta biết đến bằng chứng minh sinh lý, nguyên nhân sinh ra tế bào ung thư, để đặt trọng tâm trị liệu vào nguyên nhân đích thực gây ung thư.  Về phương diện sinh-lý bệnh-học nếu chúng ta biết rõ nguồn gốc bệnh ung thu thì việc trị liệu mới hy vọng có hiệu quả tích cực, tận gốc và tuyệt căn.


Từ đầu, qua nhiều sự may mắn ngẩu nhiên, chúng tôi có nhiều dịp  quan sát những hiện tượng tương đồng, giữa những triệu chứng bệnh ung thư và bệnh do nấm hay vi nấm gây nên: bệnh phát sinh do tâm lý bệnh, tâm sinh bệnh, ưu tư buồn phiền đau khổ có tính cách mãn tính mà hiện tại người ta hay gọi là stress (nhưng chữ tress chỉ có tính cách cấp tính), bệnh có tính chất xung khắc với bệnh do vi trùng gốc động vật, bệnh phát triển phần lớn chậm chạp trong một môi trường âm lạnh, trong môi trường hơi chua, môi trường a-cit (sympathicolytique). Có khi bệnh biến thành mãn tính, biến thành ung thư hoặc lành hẳn không cần chữa trị. Những quan sát nầy giúp chúng tôi trị thử những trường hợp ung thư mà bệnh viện đã chạy bằng các thứ thuốc chống nấm.


Hiệu quả bất ngờ cho chúng tôi thấy những triệu chứng ung thư lâm sàng và trên X-quang được đẩy lui một cách rõ rệt.  Sự kiện trên được lập đi lập lại nhiều lần giúp chúng tôi nghĩ rằng siêu-vi là sinh vật thuộc trạng thái thực vật hạ cấp hay nấm, và chính nó đã đột biến tế bào cơ thể con người thành tế-bào-nấm-ung-thư.


Chúng tôi đã tiếp tục chữa trị bằng thuốc chống nấm các loại ung thư như ung thư vú, ung thư phổi, ung thư mũi, ung thư máu, mụt ruồi vv….. Chúng tôi cũng trị bằng thuốc chống nấm những bệnh siêu vi như bệnh viêm gan do siêu vi B, C, bệnh herpes, bệnh zona (bệnh dời bò), kể cả bệnh Sida/Aids, bịnh teo cơ, bệnh rổng tủy sống (Syringomyélie), bệnh Charcot, bịnh suyển, bệnh viêm khớp, bịnh thần kinh vv… nói chung là các bệnh nan y mà chúng tôi tin rằng do siêu vi gây nên.


Chúng tôi đã đạt nhiều thành quả bất ngờ. Những thành quả đó chúng tôi chỉ có thể chứng minh bằng những lập luận lý thuyết và những kết quả lâm sàng, những kết quả thâu thập được trên những bệnh nhân ung thư đã được chữa trị đầy đủ, đúng cách và đã được lành.



I- Khái niệm về tế bào, vi-trùng, vi khuẩn :


Đễ tất cả mọi người có thể  hiểu dễ dàng về sự hình thành ung thư và các bệnh do siêu vi và cực siêu vi gây nên, chúng tôi xin sơ quát  về cấu tạo tế bào, vi trùng (microbes), vi khuẩn (bacilles), vi nấm (fungi)  và siêu vi (virus), cực siêu vi.


Hai nhà sinh vật học người Đức, các ông M. Schleiden và T. Schwann đã nghiên cứu thuyết tế bào. Mọi sinh vật lớn nhỏ, động vật hay thực vật, đều được cấu tạo bởi những tế bào. Tế bào sống trong môi trường dinh dưỡng bằng cách thu nhập thức ăn, dưỡng khí 02 và tiêu hoá chúng đi để rồi lại phế thải những cặn bả qua màng tế bào ra ngoài.


Màng tế bào giữ một vai trò quan trọng đưa những chất dinh dưỡng vào tế bào qua những lổ nhỏ và bằng hiện tượng thẩm thấu (osmose) hoặc những hiện tượng chuyên chở đặc biệt để nuôi tế bào.  Tế bào chứa một chất gọi là nguyên-sinh-bào hay dịch-bào (cytoplasme : số 13 Hình III). Dịch-bào làm thành một khối nhầy chứa nhiều tiểu bộ-phận gọi là thể-bào hay sinh-thể-bào (organites: số 12, 15 Hình III)). Giữa tế bào có một khối quan trọng gọi là nhân (noyau: Hình III).

  


Nhìn bên ngoài dù là trẻ con cũng phân biệt được một cái cây và một con vật dù cây và vật có nhỏ đến đâu. Nhưng về thực chất bên trong thì cách thức và chất lượng cấu tạo tế bào và nhân của tế bào dầu là thực vật hay động vật thì đều giống nhau.  Do đó giữa những vi-sinh-vật độc bào (monocellulaire) thực vật hay động vật, đôi khi cũng rất khó phân biệt nguồn gốc thực vật hay động vật.


Những sinh vật độc bào như những vi-trùng (microbes), vi-nấm (micro-champignons hay fungi), vi-men (micro-levures), vi-rêu (micro-algues) là những giống độc-bào, nghĩa là chúng chỉ gồm một tế bào. Người ta thường dùng tên vi-trùng mà gọi chung cho tất cả vi-động-vật. Tiếng vi-khuẩn (bactéries, bacilles) thường dùng để chỉ các loại vi-trùng thuộc nấm hay thực-vật. Vi trùng và vi khuẩn có kích thước từ vài microns đến 10 microns (1microns = 1/1000mm).


Vi trùng động vật, vi khuẩn thực vật và tế bào con người đều có một cấu tạo hình thức và hóa học giống nhau.  Bên ngoài là màng tế bào được cấu tạo bởi những phân tử hữu cơ, mở, đặc biệt là chất mở cholestérol và những phân tử protéin cùng một ít phân tử glucose.


Với kính hiển vi điện tử những thể-bào (organites) được nhìn thấy rõ ràng. Người ta phân biệt được từng chi tiết chức năng sản xuất, tiêu hóa, bài tiết vv. (Hình III và IV) của mổi thể-bào; chúng rất cần thiết cho sự chuyển-hóa tế bào (métabolisme cellulaire).


Trong nguyên sinh, tế bào chứa một nhân lớn được bao bọc bằng màng-nhân mỏng. Nhân là cơ quan di-truyền của tế bào. Những yếu tố di-truyền trong nhân là những nhiểm-sắc-thể (số 1 Hình II).  Nhiễm-sắc-thể được cấu tạo bằng những phân tử acide désoxyribonucléique gọi tắt là ADN và acide ribonucléique gọi tắt là ARN. Đây là những acide nucléique hữu cơ có mặt trong các tế bào sống để cấu tạo tính chất di truyền, có nhiều trong nhân và dịch-bào, nó đóng vai trò quan trọng trong sự sinh sản và tính cách di truyền của tế bào.


ADN cấu tạo nên những nhiểm sắc thể di truyền của mọi tế bào sinh vật từ lớn đến nhỏ kể cả siêu-vi (virus) và đàn em của chúng. Số nhiễm sắc thể di truyển trong nhân của loài người là 46, trong lúc đó nhiễm sắc thể của noản tử hay tinh trùng chỉ là 46/2 tức là 23.  Khi tinh trùng và noản tử phối hợp lại để làm nên tế bào con người thì số nhiễm sắc thể là tổng cộng của noản tử và tinh trùng tức 46, số nhiểm sắc thể nầy không thay đổi cho một giống động vật và thực vật.


Hiện tượng phối hợp 2 nhóm nhiểm sắc thể của noản tử và tinh trùng làm cho chúng ta hiểu dễ dàng hiện tượng đột biến của siêu vi và tế bào con người để biến thành tế bào ung thư sẽ nói đến sau nầy.  Cũng thế hiện tượng nầy cũng xẩy ra giữa 2 siêu vi để sinh ra siêu vi mới; cũng xẩy ra giữa siêu vi và vi trùng để sinh ra một lọai vi trùng mới; hoặc xẩy ra giữa siêu vi với bất cứ tế bào động vật hay thực vật nào để sinh ra một loại tế bào mới.  Vì thế trên trái đất các loại siêu vi và vi trùng gia tăng không kể xiết hằng giây phút.  


Từ những hiện tượng đột biến của siêu vi và của vi trùng, chúng ta hiểu những đột biến của nấm và động vật một cách dễ dàng để áp dụng vào sự hình thành tế bào ung thư.



II - Khái niệm về siêu-vi :


Hiện tại sinh vật nhỏ nhất mà người ta thường nói đến là siêu vi và họ hàng bà con gần của nó là cực siêu vi, siêu thể, siêu chuyển thể....  Dầu siêu-vi và cực siêu vi chưa đáng được gọi là tế bào vì nó không có dịch-bào (hay nguyên sinh) và màng bao bọc, tuy nhiên nó có sự sống và sinh sản nên nó đã trở thành một loại mà tôi tạm gọi là ‘vi-tế-bào’.  Siêu vi không có nguyên dịch bào nuôi dưỡng, nên chúng chỉ có thể sống ký sinh trong các tế bào thực vật và động vật.  Siêu vi sống và sinh sản mau lẹ khắp nơi trong các cơ thể sinh vật độc bào hay đa bào, thực hay động vật sống trên trái đất; nhưng chúng cũng mau lẹ bị tiêu diệt bởi sức đề kháng của các sinh vật thực hay động vật.


Nhiễm sắc thể trong siêu vi hoàn toàn giống nhiễm sắc thể của bất cứ tế bào thực vật hay động vật nào.  Riêng nhiểm sắc thể của các cực-siêu-vi (ultravirus) và siêu-thể (plasmides) và siêu-chuyển-thể (éléments génétiques transposables) là đàn em của siêu vi, chỉ gồm có những phân tử ARN chứ không có ADN. Cực siêu vi, siêu-thể và siêu-chuyển-thể khác với siêu-vi ở điểm là chúng nó chỉ cấu tạo bởi ARN và không có màng nhân bao bọc.


Khi những cực-siêu-vi hay siêu-thể hay siêu chuyển thể vào được trong tế bào, ARN của chúng được một chất enzyme đặc biệt (enzyme transcriptase reverse) biến đổi chúng thành ADN để tác động gây bệnh cho tế bào nếu tế bào không tiêu diệt được chúng.  Và siêu vi dầu có màng, khi vào trong tế bào cũng đều để màng lại bên ngoài tế bào.  Vậy khi vào tế bào tất cả gia-đình siêu-vi, cực-siêu-vi, siêu-thể hay siêu-chuyển thể đều có những hình thức và hoạt động gây bệnh giống nhau, nghĩa là chúng đều không có màng nhân và có dạng ADN giống nhau.


Vì vậy trong những chương sau nầy nói về siêu-vi gây bệnh chúng ta có thể hiểu rằng siêu-vi là đại diện cho tất cả gia đình bà con gần của nó kể trên mà khoa học hiện ngày nay biết đến.


Siêu-vi là những sinh vật rất nhỏ mà trước đây ông Pasteur đã dùng màng lọc cực tinh-vi (filtres ultrafins) vẩn không lọc được.  Siêu-màn-lọc tinh vi đến độ giữ lại những con vi trùng và vi-khuẩn nhỏ nhất nhưng vẩn không giữ được những sinh-vật nhỏ li-ti, nên ngày trước ông Pasteur đã gọi chúng là vật-thể-lọt-lọc (agents filtrants), đó là những con siêu-vi và cực-siêu-vi (virus và rétrovirus hay ultravirus) mà chúng ta nói đến ngày nay.


Như đã nói trên, siêu-vi không hội đủ yếu tố của một tế bào. Nhưng vì nó sinh-sản trong cơ thể chúng ký sinh, nên người ta không thể chối cải là nó có sự sống, nó vẩn có chổ đứng trong hàng những sinh vật hạ đẳng nhất.  Ngày nay người ta coi nó là một loại vi-bào (prion) hạ đẳng.  Kích thước của siêu-vi đo bằng nanomètres (1milimètre = 1.000.000nm): ví dụ con siêu-vi rừng Semliki dài 50nm (Hình I, vẻ theo hình chụp của S.D. Fuller, Cell 48; 923, 934, 1987).  Trong hình cắt ngang (Hình II), cụm ADN làm thành siêu vi được bao bọc bởi một màng-nhân hình lục giác làm bằng chất hửu cơ, đó là màng-vỏ của siêu vi. Vì dụ siêu vi bệnh Liệt kháng/Aids/Sida.


    







Hình 2 bis: Siêu vi theo Google



Hình 2 ter: Siêu vi bệnh liệt kháng/Aids/Sida
(Nguồn Wikipedia)


Cho đến ngày nay Y-học chính thống thế giới đã tìm ra ba tác động của siêu vi gây bệnh đối với tế bào cơ thể người và vật: 1) Siêu vi làm tê liệt tế bào, ví dụ trong bệnh AIDS; 2) Siêu vi tiêu diệt tế bào, ví dụ trong trường hợp bệnh đậu mùa, bệnh Charcot, bệnh AIDS; 3) Siêu vi đột biến tế bào động vật để sinh ra ung thư của siêu vi.   



III -  Tác động làm tê liệt tế bào của siêu-vi :


Siêu vi thường xuyên đột nhập và trú ngụ trong cơ thể với một lượng nhiều vô số kể. Thường chúng  đều bị tế bào cơ thể nuốt trững ( Hình III, 15), tiêu hóa đi và bài tiết chất phế thải ra ngoài (Hình IV, 19) hay ngăn chặn mọi sự phát triển quá đáng của chúng.


Nhưng gặp lúc tế bào suy yếu vì thương tật, bị đầu độc bởi hóa chất hoặc vì một lý do gì, siêu vi bèn phát triển mạnh xâm chiếm tế bào (Hình V). Nó bỏ màng nhân bên ngoài, ADN biến thành ARN và lan vào dịch-bào (cytoplasme) cơ thể mà sinh sống, sinh sản và gây bệnh.  Thật ra thì có thể chính tế bào cơ thể chụp lấy siêu-vi để tiêu diệt bằng cách tiêu hóa nó như trong hình  III, IV.  Nhưng lúc tế bào không tiêu diệt được siêu-vi thì siêu-vi gây nên nhiều rối loạn khác nhau cho tế bào mà sinh bệnh.  Ở đây chúng tôi nói về việc siêu vi làm tê liệt tế bào (Hình V).



Khả năng gây bệnh đầu tiên của siêu-vi là tác động làm tê liệt chức năng của tế bào cơ thể.  Và rồi nó tiêu diệt dần dần tất cả chức năng của toàn thể tế bào của một cơ quan.  Theo tôi nghĩ sở dỉ siêu-vi làm tê liệt được chức năng tế bào có lẻ vì nó lấy hết những phân tử dinh dưỡng cần thiết cho chức năng tế bào, cũng như nó gây chướng ngại vật cho sự điều hành chức năng trong một tế bào. Xong rồi nó lại thong thả đi ra và đi vào những tế bào kế cạnh khác để làm tê liệt tế bào khác tiếp, hoặc theo dòng máu và dòng bạch huyết di chuyển đến những tế bào xa xuôi để tiếp tục gây bệnh.


Với sự biến đổi nầy, tế bào trở thành vô dụng, khác nào một người kỹ sư giỏi có phận sự quan trọng mà phải thành bất lực vì khối óc và bàn tay không còn làm việc được; khác nào một chiến sĩ đang tác chiến ngoài sa trường không còn khả năng cầm súng.  Khi số tế bào bị phá trở nên tê liệt chức năng tăng đến một độ quan trọng, hoạt động của cơ quan bi xâm chiếm trở thành ra ngưng trệ.


Tính chất làm tê liệt hẳn chức năng tế bào ảnh hưởng trầm trọng đến sự sống cơ thể. Cơ thể sinh ra lắm bệnh khác nhau tùy mô hoặc cơ quan, tức là tùy vị trí của cơ thể bị làm tê liệt mà người ta đặt tên cho bệnh trạng : ví dụ tế bào tụy tạng Langerhan bị phá hoại thì sinh ra bệnh tiểu đường, tế bào thần kinh bị phá hoại thì sinh ra bệnh thần kinh hay bệnh tâm thần.  Đây cũng là trường hợp bạch huyết cầu trong ung thư bạch huyết, lymphocytes T4 trong bệnh AIDS/SIDA, hồng huyết cầu trong ung thư máu, tế bào thận trong bệnh viêm thận mãn tính, tế bào gan trong bệnh viêm gan A, B, C, và tế bào thần kinh trong các loại bệnh thoái hóa thần kinh và tất cả các loại bệnh tâm thần.


Những trường hợp trên có thể xẩy ra cho mọi lứa tuổi, nhưng thường xuyên xẩy ra cho người già mà cơ thể đã suy yếu hao mòn, người ta thường đặt tên là bệnh già, bệnh lão hóa.  Nếu đề phòng hay chữa trị kịp thời có thể cứu lấy phần nào chức năng của các tế bào quí báu không sinh lại được như tế bào thận, tế bào tụy tạng, tế bào thần kinh và tránh được nhiều bệnh nan trị làm hại sức khỏe và tuổi thọ.



IV- Tác động tiêu diệt tế bào của siêu vi :


Tác động thứ hai là siêu vi tiêu diệt tế bào.  Có lẻ đây là loại siêu vi có công lực khá mạnh hơn công lực tế bào cơ thể. Đầu tiên có thể nó bị tế bào cơ thể tấn công, đưa vào nguyên dịch bào để tiêu diệt.  Nhưng tế bào không tiêu diệt được siêu vi.  Siêu vi bèn sống ký sinh trong nguyên dịch của tế bào cơ thể khi tế bào yếu đuối không tiêu diệt hay kiềm chế được nó (Hình V, 26), siêu vi sinh sôi nẩy nở thành hàng tỉ tỉ siêu-vi-con (Hình VI, 25) xâm chiềm tế bào.  Siêu vi sinh sản rất nhanh chóng, mổi ngày có thể sinh ra hàng tỉ con trong dịch-bào.





 


Tế bào bị xâm lăng chứa quá nhiều siêu vi ký sinh, bèn trương phồng lên, rồi nổ tung ra (Hình VII), tế bào bị tiêu diệt hoàn toàn.  Hằng hà sa số siêu-vi-con mạnh mẽ hơn cả siêu-vi mẹ (Hình VI, 27) vì được nuôi dưỡng tự do trong môi trường béo bổ của tế bào cơ thể, văng tung tóe (Hình VII, 28) ra khắp nơi tiêu diệt những tế bào cơ thể  khác xung quanh.  Nó cũng đổ vào máu đi khắp cơ thể, tiếp tục xâm nhập các tế bào các mô của các cơ quan xa khác để tiếp tục tiêu diệt tế bào như trước. Và cứ như thế siêu-vi sống và sinh sản tiếp tục trong các tế bào rất nhanh để tiếp tục tiêu diệt các tế bào mà nó xâm nhập để cuối cùng tiêu diệt cơ thể.  Nó cũng dễ dàng lây lan từ người nầy sang người khác, trở thành những bệnh dịch ví dụ như bệnh đậu mùa, bệnh viêm gan A, B, C.  Có khi siêu vi sống tiềm sinh trong cơ thể người mạnh (porteur de germes), không tiêu diệt tế bào, nhưng qua cơ thể người khác yếu hơn thì nó gây tiêu diệt mạnh mẽ phi thường.


Cùng lúc ấy cơ thể huy động tế bào bạch huyết cầu tấn công siêu-vi.  Siêu-vi càng sinh nhiều thì bạch huyết cầu cũng nhanh chóng sinh nhiều. Đây là một cuộc chiến tranh ác liệt nhưng âm thầm trong cơ thể con người.  Nếu bạch huyết cầu có đủ khả năng tiêu diệt siêu-vi thì lành bệnh và cơ thể có tính miễn nhiễm tự tạo (immunité acquise), hoặc sự tàn phá chỉ có giới hạn.  Siêu vi có thể bị tiêu diệt hoàn toàn, hay bị kiềm hãm trong cuộc sống tiềm sinh, hoặc bị đẩy ra ngoài da như trường hợp mụt ruồi xanh, đỏ, nâu, đen hoặc vết nám, đồi mồi thường mọc trên da mặt người có tuổi.


Hoặc siêu vi có thể bị bao vây vào trong các ốc đảo như các cục bứu hiền lớn nhỏ mà chúng ta thường gặp. Những ví dụ thường gặp về ốc đảo siêu vi là các mụt ruồi đỏ, xanh, nâu đen lớn nhỏ, các bứu mở trong huyết quản (bứu cholestérol trong động mạch) bứu mở dưới da (lipome), các bứu hiền, tàn nhang, nám mặt vv....


Sự tiêu diệt tế bào rất rõ rệt trong bệnh đậu-mùa. Siêu vi đậu mùa rất mạnh giết chết các tế bào tăng trưởng của da gây nên những vết sẹo trắng sâu làm thành mặt rổ, như vậy thì dầu đẹp đến đâu cũng ôi thôi, đó là một nổi niềm đau khổ của con người.  Gặp người yếu, siêu vi đậu mùa vượt cửa-ải-da, xâm nhập luôn lục phủ ngủ tạng và hệ thần kinh, chúng nó tiêu diệt cơ thể, tử vong !  Thường người ta treo màn đỏ trong phòng để hưng phấn hệ thống đề kháng của cơ thể người mắc bệnh, để cho đậu-mùa mọc ngoài da thật tốt mà không xâm nhập cơ thể được.  Nếu đậu-mùa không mọc tốt ngoài da tức là nó đã xâm nhập cơ thể.  Chích ngừa đậu mùa là việc tối quan trọng.


Sự tiêu diệt tế bào cũng rất rõ ràng trong bệnh ung thư máu, bệnh ung thư bạch huyết cầu, bệnh Sida/Aids, bệnh rổng tủy sống (syringomyélie), bịnh Charcot, nhiều bệnh mãn tính, bệnh tâm thần và bệnh thần kinh mà Y-học thường nói rằng không biết được nguyên nhân và cách trị liệu.


Trong bệnh Sida/Aids, khi số lượng bạch huyết cầu Lymphocytes T4 bị hủy diệt còn chừng mực, và cơ thể còn khả năng sinh sản kịp thời Lymphocytes T4 để thay thế số lượng bạch huyết cầu Lymphocyte T4 bị tiêu diệt, hoặc cơ thể còn khả năng tiêu diệt phần nào siêu vi HIV, lúc đó cơ thể còn có thể sống một cách như bình thường trong một thời gian khá lâu.


Vì thế khi nhuốm phải HIV, cơ thể vẩn còn khả năng sống mạnh khỏe trong một thời gian dài hay ngắn tùy theo tình trạng sức khỏe của cơ thể.  Sự sống nầy kéo dài từ nhiều tháng, nhiều năm đến 10, 12 năm hoặc nhiều hơn.  Thời kỳ nầy tương đương với/hoặc giống y như thời kỳ mà con người được tiêm chủng ngừa trong các thứ bệnh khác.  Nhưng tiếc thay trái với nguyên lý tiêm chủng thông thường, theo đó bạch huyết cầu càng đấu tranh càng thêm kinh nghiệm chống siêu-vi, trong trường hợp bệnh Liệt kháng (AIDS/SIDA), càng đấu tranh thì bạch huyết cầu Lymphocyte T4 cơ thể càng yếu và siêu-vi thì càng ngày càng mạnh. Đó là nguyên do không thế chế thuốc chích ngừa bệnh SIDA.  



V- Tác động gây ung thư của siêu vi :


Cho đến ngày nay chúng ta biết tác động cuối cùng ghê sợ nhất của siêu vi là gây ung thư, vì đó là bản án tử hình cho kẻ vô tội.  Trong trường hợp nầy chẵng những siêu vi coi như được sống ký sinh thoải mái không bị tiêu diệt trong dịch-bào mà nó còn được chiếm thế thượng phong của kẻ mạnh. Siêu vi được di động tự do không gặp một sức cản trở nào (Hình VIII, 24, 30).  Các tiêu-thực-thể của tế bào của con người mất sức đề kháng, trở thành bất lực hoàn toàn (Hình VIII, 32).


Thế rồi gặp hoàn cảnh thuận lợi, siêu vi được hút vào nhân tế bào (Hình IX). ADN của nhân tế bào mở rộng cửa đón (Hình X) mời siêu vi vào hợp tác chung sống (cho vui vẻ với nhau!).  Có lẻ siêu vi bị thu hút bởi một vật đồng tính chất với nó, đó là ADN của nhân tế bào cơ thể (Hình XI);  để rồi chính nó nhập ADN của nó vào ADN của tế bào cơ thể mà làm thành một ADN hoàn toàn mới.


Đó là hiện tượng hòa hợp biến đổi đột ngột như hiện tượng tinh trùng và noản sào phối hợp với nhau để tạo nên một nhân mới với số nhiễm sắ thể lớn hơn để sinh ra một tế bào mới, khác lạ hoàn toàn.








    
Lúc ấy tế bào cơ thể không còn ADN của nó nữa mà nó đã có một ADN mới lạ, gồm một ADN của siêu vi và một ADN của tế bào cơ thể tổng hợp lại, tức là ADN mới có một tính di truyền mới.  Đó là hiện tượng đột biến tế bào cơ thể.  Như vậy hai ADN, một của tế bào cơ thể và một của siêu vi đã nhập lại với nhau làm một duy nhất, sinh ra một tính di truyền mới trong tế bào mới.  Và tế bào mới đó chính là tế bào ung thư đầu tiên (Hình XII).


Tế bào mới nầy là độc bào, không còn là thành phần của cơ thể vì số nhiểm sắc thể mới của nó :


ADN ung thư = 46 (ADN tế bào người) + X (ADN siêu vi)


X là số nhiểm sắc thể của một siêu vi nào đó.  Như vậy số nhiễm sắc thể của tế bào ung thư không bao giờ bằng số nhiễm sắc thể của tế bào cơ thể là 46, nó luôn luôn lớn hơn 46. Tất nhiên tế bào mới nầy có một tính di truyền hoàn toàn khác với tế bào cơ thể.  Tất nhiên tế bào mới nầy không thể nào tuân theo một mệnh lệnh nào của cơ thể.  Nó sống độc lập và sinh sản nhanh chóng hổn loạn bừa bãi (Hình XIII, XIV, XV).


Cơ thể liền tổng động binh các mô chống cự tế bào mới, bao vây việc sinh sản bừa bãi nầy. Đó là nguồn gốc gây nên bứu hiền rồi mới đến giai đoạn bứu dữ hay ung thư  (việc nầy sẽ bàn đến sau).  Đó là hiện tượng siêu-vi đột biến tế bào cơ thể thành tế bào ung thư.  Việc hình thành và phát triển tế bào ung thư thành cục bứu rất âm thầm, không hề gây một khó chịu nào cho cơ thể, khác nào trồng thêm một cây kiểng trong nhà thì có gì phiền muộn.


Từ trước đến nay Y khoa chính thống quốc tế nói rằng nguyên nhân đích thực của ung thư chưa được biết đến. Người ta thường đưa ra những lý do gần và lẻ tẻ mà thôi. Ví dụ như có trường phái chủ trương ung-thư do màu sắc hóa chất; có trường phái khác cho ung thư do siêu-vi tạo ra, có trường phái cho ung thư là do di truyền vv...,  nhưng vẩn không rõ nguồn gốc đích thực của nó.  Người ta đã chứng minh được nhiều trường hợp ung thư do siêu-vi sinh ra và cũng đã quan sát được nhiều trường hợp do màu sắc hóa học gây nên hoặc do di truyền.


Ở trên chúng tôi chứng minh rằng sơ khởi ung thư phải là do siêu-vi thường trực có mặt khắp nơi trong cơ thể gây ra trong những điểu kiện thuận tiện. Vậy màu sắc hóa học nhân tạo làm suy yếu tế bào, và tình trạng sức khỏe do di truyền là yếu tố định đoạt tình trạng đề kháng của tế bào trong việc chống lại tác động của siêu-vi.


Các tế bào ung thư có những tính chất chính đặc biệt khác với tế bào cơ thể là phát triển một cách hoàn toàn hỗn loạn, sống độc lập và luôn có tính độc bào.  Mức độ phát triển nhanh chậm của tế bào mới còn tùy thuộc loại siêu vi tấn công tế bào độc hại nhiều hay ít, và tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của cơ thể.


Khi sự phát triển đến một mức nào đó thì nó gây phiền toái cho các tế bào, các mô (tissus) và các cơ quan (organes) lành mạnh trong cơ thể, và làm tê liệt và tiêu diệt các chức năng của những tế bào, mô và cơ quan, dẩn dần đưa đến cái chết cho cơ thể không thể tránh.



VI - Nguồn gốc nấm của siêu-vi :


Như đã nói trên, sau nhiều quan sát trị liệu bệnh siêu-vi và bệnh nấm, chúng tôi đã đặt những câu hỏi, phải chăng siêu-vi có những đặc tính của tế bào nấm ?  Phải chăng siêu vi là một loại nấm hạ cấp ?  Chúng tôi đã chữa trị thử nhiều trường hợp ở Việt-nam. Chúng tôi đã trị thử những hiện tượng hiền và dữ do siêu vi gây ra y như trị những bệnh nấm khó khăn nhất với những tính chất đặc thù của nó.


Và chúng tôi đã gặt hái những kết quả thật khích lệ.  Chúng tôi cũng tiêu diệt những cụm siêu vi sống tiềm sinh như mụt ruồi đen trên mặt mà không để lại vết sẹo, mụn đồi mồi bằng những chất thuốc chống nấm.  Sau đó chúng tôi đã thành công làm biến mất những bứu ung thư trong phổi (được xác định bằng X-quang), những bứu ung thư vú và di căn (bằng chứng).


Công việc điều trị đòi hỏi nhiều kiên nhẩn và thời gian để có kết quả tốt.  Những kết quả nầy đã khuyến khích chúng tôi vững tâm tiếp tục trị liệu, làm đơn xin bằng sáng chế trị liệu tại Mỹ và Canada, đồng thời viết ra tập sách nhỏ nầy.  Chúng tôi đã kết luận bằng một suy luận quy nạp (raisonnement par induction) rằng siêu vi có nguồn gốc nấm.  Chúng tôi hoàn toàn chỉ có những kết quả lâm sàng (résultats cliniques) chứ không có kết quả trong phòng thí nghiệm.


Siêu-vi, cực-siêu-vi và bà con gần của chúng là vi-thể (plasmides) và vi-chuyển-thể (éléments transposables). Vi-thể và vi-chuyển-thể là những nhóm nhỏ phân tử acide nucléique ARN kết chặc với nhau. Những vi-thể và vi chuyển-thể nầy có thể sinh ra nhiều vi-thể và vi-chuyển-thể-con.  Chúng là những loại đại-cực-siêu-vi không có màng-vỏ bao bọc.  Chúng tôi nhận thấy rằng những loại cực siêu vi càng nhỏ thí chúng càng độc có nghĩa là rất khó tiêu diệt, ví dụ trường hợp cực siêu vi HIV của bệnh Sida/Aids.


Tất cả chúng là những sinh vật hạ đẵng nhất trên trái đất mà chúng ta biết.  Bắt nguồn từ những giống hạ đẵng nầy, siêu-vi, vi-khuẩn gốc nấm được sinh ra trước rồi mới đến vi-trùng gốc động-vật được sinh tiếp theo.  Vậy giống hạ đẵng nầy không thể nào có nguồn gốc động vật được, chúng chỉ có thể có nguồn gốc thực vật với bản chất nấm.  Chính vì chúng có nguồn gốc thựt vật nên khối ung thư lúc nào cũng cứng như gổ.  Chúng ta có thể kết luận rằng siêu-vi có nguồn gốc nấm, nguồn gốc thực vật hạ đẳng nhất trên trái đất được biết đến ngày nay.  Có lẻ vì thế siêu-vi có sức tồn-sinh cực mạnh.


Tiếng thực vật gốc la-tinh gọi là « végétus » có nghĩa là « vigoureux  =  mãnh liệt ».  Siêu-vi có thể sống ký sinh vào bất cứ tế bào động vật hay thực vật nào.  Siêu-vi có thể sống tiềm sinh hàng triệu triệu năm dưới những núi băng tuyết miền Bắc-cực.  Siêu có thể chịu độ nóng đến trên 120oC, siêu-vi có thể chịu độ nóng của ánh sáng mặt trời.  Người ta đã tìm thấy siêu vi có mặt trên Hỏa tinh. Tất cả những tính chất thiên nhiên nầy chứng minh rằng siêu-vi có gốc thực-vật, sống mảnh liệt và bền dai nhất.  Siêu-vi là một giống siêu-vi-nấm hay siêu nấm.  Vi trùng gốc động vật không có khả năng sống mãnh liệt  như thế, không có sức tồn sinh dai dẵng như thế.


Một luận cứ khác, trong bệnh Sida, sách giáo khoa y-học thế giới cho rằng cực-siêu-vi HIV thích chạy theo tế bào bạch cầu Lymphocytes T4 để giết nó. Nhưng có lẻ điều nầy oan cho cả siêu-vi và cho Lymphocytes T4.  Theo suy luận của chúng tôi, trong cuộc chiến đấu của cơ thể đối với cực-siêu-vi HIV, Lymphocytes T4 là chuyên gia có bổn phận trong việc tiêu diệt tế bào nấm, siêu vi và đặc biệt là HIV.  Và cũng vì bổn phận nầy mà Lymphocytes T4 đã hăng hái đi tìm bị siêu vi HIV để tiêu diệt, nhưng vì siêu vi HIV quá mạnh, chính nó đã tiêu diệt T4, đem lại cái chết cho cơ thể.  Vì sau khi bạch cầu Lymphocutes T4 bị tiêu diệt thì những biến chứng hay đúng hơn là những « bệnh thời-cơ cùng bản chất nấm» được dịp ào ào trổi dậy (người bị nhiễm HIV chết vì những bịnh có nguồn gốc nấm).  Vì vậy, xét qua những loại bệnh thời-cơ nầy thì hết thẩy chúng là những bệnh do vi-nấm sinh ra.


Chúng ta thử kể: bệnh nấm Candidose; bệnh siêu-vi Herpès; bệnh sưng màng óc vi-nấm Cryptocoques; bệnh lao do vi-khuẩn Koch gốc thực vật; bệnh ung thư Kaposi; bệnh sưng phổi vi-nấm Pneumocystis Carini; các bệnh do các loại vi-nấm Coccidiose; Histoplasmose; Scryptosporidiose; Toxoplasmose; Cryptococcose; các chứng bệnh do các loại vi-nấm : Mycobactérienne à M. Kansasii hay là Mycobactérium Avium vv....


Bạch huyết cầu Lymphocytes T4 còn nhiều và mạnh, bệnh thời cơ nấm không phát tán được. Lymphocytes T4 suy vi nặng, những bệnh thời cơ nấm nẩy sinh ra ào ạt để giết cơ thể.  Điều nầy chứng minh chính bạch huyết cầu Lymphocytes T4 là chuyên gia tiêu diệt vi-khuẩn và siêu vi gốc thực vật, mà đặt biệt là siêu-vi-nấm HIV.  Điều nầy chứng minh rõ rằng tất cả siêu-vi và siêu vi HIV đều có nguồn gốc nấm.


Để đề phòng những bệnh-thời-cơ trong các biến chứng bệnh liệt kháng/Sida (Aids) hầu hết đều là những bệnh do vi-khuẩn nấm, người ta cho người bị nhiễm siêu-vi HIV uống một liều nhỏ thuốc chống nấm Nystatin. Điều nầy khẳng định rằng tế-bào bạch-huyết Lymphocytes T4 là loại tế bào có chức-năng đặc thù tiêu hủy các vi-khuẩn gốc thực vật, các siêu vi mà điển hình là siêu-vi HIV.


Vậy trong bệnh Liệt kháng/Sida/AIDS, chính bạch huyết cầu Lymphocytes T4 đi tìm HIV để tiêu diệt, chứ không phải HIV thích đi tìm Lymphocytes T4 để xâm chiếm.  Chẵng khác nào cảnh sát đi tìm ăn cướp để tiêu diệt chứ ăn cướp dại gì đi tìm cảnh sát.  Nhưng sau một thời gian chống cự mảnh liệt thì ‘cảnh sát’ Lymphocytes T4 bị thua và bị sát hại bởi ‘bọn ăn cướp’ HIV !!!



VII- Tính cách bất động của siêu vi và cực siêu vi :


Theo quan niệm Sinh-học Phân tử của Tế bào theo sách Giáo-Y-khoa  từ trước đến nay, người ta vẩn cho là siêu vi biết di động (Biologie moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8 năm 1990, trang 249).  Có lẻ điều nầy cần lại nhận xét lại mới đúng.


Vì người ta cho rằng siêu vi di chuyễn được vì có màng-vỏ và màng mở bọc ngoài, và vi-thể và vi-chuyển-thể không di chuyễn được vì không có màng. Quan niệm nầy cần thay đổi lại cho chính xác hơn.  Vì sự di chuyển của các tế bào động vật là nhờ giả túc (pseudopodes).  Mà muốn có giả túc phải có dịch-bào hay nguyên sinh (cytoplasme).  Ngay các thể-bào (organites) nhỏ nhất trong dịch-bào (cytoplasme) của tế bào, muốn di chuyển chúng phải có giả túc. Ví dụ như thể-bào-tiêu-thực (vésicules phagocytaires) trong dịch-bào, muốn di động thì chúng phải nhờ đến môi trường dịch-bào trong chính nó để mọc giả túc.  Siêu vi không có dịch bào, nên không có giả túc, nó hoàn toàn không thay hình đổi dạng để di chuyễn.  Nhờ kính hiển vi điện tử, người ta thấy được siêu-vi rõ ràng, chúng không hề có giả túc. Không có giả túc siêu-vi làm sao có thể di chuyễn được.  Vậy chúng ta có thể nghĩ rằng siêu-vi không di chuyển được.  Mọi sự thay đổi chổ của nó là do yếu tố bên ngoài.  Vậy siêu-vi không chứa dịch-bào nên chúng không thể di chuyển. Vả lại, bằng cớ là lúc vào trong tế bào siêu vi bỏ màng nhân của nó lại bên ngoài màng tế bào mà vẩn đi lại như thường. Vậy sự di chuyễn của nó không phải tự động nhờ màng vỏ của nó.  Có thể sự di chuyển mạnh mẽ của siêu vi là do hình thức trôi dạt trong dịch bào, hoặc được thu hút qua màng nhân vào tận trong nhiễm sắc thể của nhân tế bào để cấu kết với ADN của nhân tế bào.  Qua tia sáng mặt trời chúng ta thấy trong không khí hàng tỉ tỉ hạt bụi lớn nhỏ bay khắp nơi, sự bay này không thể cắt nghĩa là các hạt bụi biết di động.  Siêu-vi cũng vậy, vào nhiễm hại tế bào, rồi lại trôi dạt qua các tế bào khác là do sự lan tràn và sự bùng nổ của tế bào làm siêu vi văng đi khắp nơi. Và cuối cùng là do máu và bạch huyết đưa đi khắp cơ thể.


Chứng minh về tính bất động của siêu-vi chỉ là để bổ túc thêm cho chứng minh nguồn gốc thực vật của nó.  Vì nếu đã là thực vật thì không di chuyễn được.  Ngoại trừ là sự di chuyển của thực vật có điều kiện như những cử động của hoa ăn ruồi, của nhiều loại cây lá, của cây ăn thịt người ở Phi-Châu.


Ngoài ra, những tính chất của ung thư do siêu-vi gây nên, như độ cứng cao, những tế bào ung thư kết lại thành khối cứng mọc lởm chởm, sần sùi. Nhưng đồng thời từng tế bào ung thư một rất dễ bị tách ra trôi theo dòng máu và bạch huyết, cũng góp phần chứng minh lý thuyết siêu vi có tính chất bất động và nguồn gốc thực vật.



VIII-  Siêu-vi không gây bệnh và siêu-vi gây bệnh :


Như chúng ta đã biết siêu-vi và cực-siêu-vi là những sinh vật hạ đẳng chỉ gồm có nhân chứa đựng các nhiểm sắc thể ADN và ARN.  Chúng có mặt tràn đầy trong không khí, đất đai, trên da và trong cơ thể mọi sinh vật để sống ký sinh hay sống tiềm sinh mà không hề gây bệnh. Mổi ngày chúng ta hít thở, ăn vào trong cơ thể hành tỉ tỉ tỉ siêu-vi. Bình thường sức đề kháng của các tế bào cơ thể con người vượt xa tác dụng gây bệnh của siêu vi.  Và như thế các tế bào cơ thể bình thường luôn luôn đủ sức tiêu hóa hoặc chặn đứng mọi khả năng hoạt động và sinh sản của siêu vi.  Chúng bị dồn ép sống tiềm sinh trong những ốc đảo.


Hầu hết trẻ sinh ra bị những vết nốt ruồi đen, đỏ, nâu, xanh trên da hoặc trong cơ thể; những vết nầy chính là những nhóm siêu vi tiềm sinh cấu kết lại và bị tế bào cơ thể đẩy ra ngoài da hoặc ẩn náu trong người.  Nếu cơ thể mạnh hay suy yếu, các ốc đảo siêu vi tiềm sinh, những nốt ruồi nầy có thể dần dần biến mất, hay ngược lại mọc thêm lên khắp nơi, hay không thay đổi suốt đời.


Nhờ sức đề kháng của cơ thể mà siêu vi luôn bị tiêu diệt.  Nếu không thì chúng buộc phải sống tiềm sinh để chờ đợi cơ hội thuận tiện hầu biến từ siêu vi vô hại thành siêu vi độc hại.  Vì thế sự độc hại của siêu vi tuỳ thuộc hoàn toàn vào sức đề kháng của cơ thể chúng ta.  Khi những lý do từ bên ngoài và bên trong cơ thể làm suy giảm sức đề kháng, siêu vi trở nên mạnh, chúng từ những ốc đảo bung ra để hoạt động gây tai hại cho cơ thể.  Nghĩa là siêu vi có thể gây nên ung thư hoặc nhiều loại bệnh nan y, nan trị khác nhau có nguồn gốc siêu vi.  Nhưng đâu là nguyên nhân bên ngoài và bên trong cho phép siêu vi trở nên độc hại đối với tế bào cơ thể con người ?



IX-   Tại sao tế bào cơ thể bị siêu vi tấn công ?


Con người có đời sống văn minh ngày nay bị đầu độc không ngừng bởi những hoá chất trong không khí, trong thức ăn, nước uống...  Đó là ‘những chất không phù hợp’ (partenaires anormaux) với bản tính thiên nhiên của tế bào.  Như đã nói trên khi tế bào bị giảm hay mất hết sức đề kháng vì bất cứ lý do gì đó, như bị đầu độc, bị suy thoái, hấp hối hay đã chết thì rất dễ bị siêu vi tấn công.  Ngoài ra còn phải kể đến những vết thương trầy da, vết thương li ti trong đụng chạm tình dục, do giải phẩu, do bầm dập, do nhũng tác động thẩm mỹ tai hại, lột da, chích Silicon, tắm trắng da, son phấn hóa chất độc làm tổn thương tế bào.


Hiện cuộc sống văn minh của con người bị ngâm trong những môi trường đầy độc tố cho thần kinh và cơ thể. Sự lạm dụng tối đa các loại thuốc, thức ăn uống, cà-phê, thuốc lá đầy độc tố, lạm dụng tối đa thuốc trụ sinh, các chất corticoides, các chất hormones qua nhiều thế hệ cũng đã làm hao mòn chức năng thiên nhiên chống vật lạ xâm nhập cơ thể của các tế bào và đặc biệt là của bạch huyết cầu.  Với sự lạm dụng thuốc kháng sinh, bạch huyết cầu là nguồn đề kháng của cơ thể hầu như không còn được xử dụng và không có sự luyện tập thường xuyên khi cơ thể luôn có một khối dự trữ trụ-sinh khổng lồ và ngày càng gia tăng.  Tất nhiên sức mạnh của bạch huyết cầu phải suy thoái.  Các kích thích tố, thức ăn và không khí chứa đầy độc tố đem đến cho tế bào cơ thể quá nhiều yếu tố bất thường (partenaires anormaux) mà chúng phải chịu đựng hàng chục năm và từ thế hệ nọ qua thế hệ kia tích tụ lại và di truyền lại nhiều đời.


Một yếu tố quan trọng bật nhất là đời sống tinh thần. Con người của thời đại văn minh sống xa thiên nhiên, đầu óc luôn đầy dẫy suy tư, tham vọng, ganh ghét, lo âu, sầu buồn, phiền muộn, thất vọng, chua cay, tức giận, hận thù, ham muốn tham lam tiền tài, danh vọng.  Một trong các thứ nói trên đủ phá hoại hệ thống đề kháng và tính miễn nhiễm của tế bào.  Có khi chỉ là những điều đau khổ nhỏ nhoi không cảm nhận được, nhưng tích tụ lại với thời gian như giọt nước làm tràn ly nước. Đó là những cơ may béo bổ khiến siêu vi dễ dàng mạnh lên để tác hại tế bào cơ thể về mọi mặt.  Những ưu tư phiền muộn chất chứa này có thể coi như một loại « siêu-vi vô hình» cực độc ngậm nhấm phá hoại cơ thể còn mạnh hơn hàng trăm lần những chất độc tố khác. Loại «siêu vi vô hình» nầy mở đường cho siêu vi tấn công nhanh chóng vô cùng. Ví dụ : phiền muộn, lo âu dễ nhuốm cảm cúm, dễ sinh đau răng, dễ cảm mạo, dễ bị lây bịnh...  Phiền muộn, ưu tư... làm cho trung ương thần kinh mệt mỏi, mất thăng bằng, suy sụp không điều khiển được sức đề kháng, không giữ được tính miễn nhiễm gây tai hại ghê gớm cho tế bào thần kinh và toàn cơ thể.  Đó là cơ hội quá tốt cho siêu-vi xâm hại tế bào.


Yếu tố cuối cùng là sự lạm dụng dục tình thái quá, đặc biệt là sống trong tình dục đồng tính.  Tinh lực thể xác con người bị suy thoái cùng lúc với thần kinh, nghị lực con người là một sức mạnh vô biên bị hủy hoại.  Hai dòng điện khác tên âm và dương thu hút nhau sinh năng lực, hai dòng điện cùng tên đẩy nhau là nguyên lý thiên nhiên. Nhưng nếu bắt buộc 2 dòng điện cùng tên phải ép lại với nhau, tất nhiên phải tổn hao một năng lực lớn.  Do đó, có thể trong trường hợp đồng tính có sự mất mát lớn về nội lực thể chất và nghị lực tinh thần.  Mất cả hai lực nầy, các tế bào trong cơ thể mất mát sức đề kháng và tính miễn nhiễm hoàn toàn, chúng trở thành yếu đuối hơn các giống sinh vật hạ cấp là siêu-vi.  Ngoài ra vấn đề tình dục hậu môn là yếu tố gây sức mạnh cho khối siêu vi giàu mạnh trong ruột già thành siêu vi HIV.  Có thể đó là nguyên nhân khiến siêu vi HIV yếu đuối trở nên mạnh mẽ phi thường, từ đó sinh một dòng HIV cực kỳ độc tác hại lây lan cho người.


Thế giới đã tấn công, xô đẩy trẻ em vào việc tình dục ngay tại học đường một cách vô nhân đạo.  Họ đã phá hoại hết cả đời sống ngây thơ trong sạch nơi cơ thể non nớt với  sức đề kháng còn yếu đuối của trẻ em.  Khi cho học sinh học về giới tính/tình dục, đương nhiên chúng sinh ra thực hành.  Trẻ em thực hành dục tính là trẻ em tự sát, nhân loại tự sát.  Người ta đã dạy hãm hiếp trẻ em tại học đường, dạy cho chúng tự hãm hiếp nhau, tự phá hoại cơ thể của nhau.  Trí thông minh của loài người đã ngu xuẩn dẩn loài người trở thành dã man yêu quái hơn thú vật, độc ác hơn hùm beo, tàn sát nhiều thế hệ trẻ em ngây thơ trong trắng, hậu quả thật khủng khiếp cho mọi xã hội băng hoại.  Trẻ em có bộ phận sinh dục như bông hoa búp non, chưa phát triển, đã bị xã-hội đẩy vào đường tình dục ô-uế làm mất hết ý nghĩa thơ mộng tuổi thơ, mất hết sinh khí con người.  Cơ thể tuổi thơ kiệt quệ bị phá hoại cách man rợ, sinh ra suy thoái, tàn tạ, già nua thể chất và tinh thần nhanh chóng.  Phải chăng đó là mầm móng tự hũy của nhân loại?


Sau những việc lạm dụng tình dục bừa bãi hỗn loạn với trẻ em, còn phải kể thêm việc phụ nữ trẻ uống thuốc cai đẻ, phụ nữ già uống hóc-môn theo lời khuyên chống loãng xương của các đồng nghiệp bác sĩ !!!  Các vị nầy nhận tiền của các hãng bào chế cổ võ uống thuốc hóc-môn bất chấp sức khoẻ đàn bà.  Thiếu gì cách đề phòng loãng xương mà phải chấp nhận những biến chứng sinh ra do độc chất hóc-môn.  Lại bày ra đặt vòng xoắn như lạc đà trên sa mạc để phục vụ tình dục.  Họ đâu quan tâm vòng xoắn cọ xát thường xuyên gây thương tích cho niêm mạc tử cung mà sinh ung thư.


Ngoài ra còn một vấn đề cần nói đến, đó là chuyện giao hợp giữa vợ chồng thường sinh ra cho cổ tử cung cú va chạm mạnh liên tục.  Sinh ra những vết thương nhỏ li ti, đủ cho siêu vi xâm nhập.  Những vết thương đó được lập đi lập lại nhiều lần trước sức tấn công của siêu vi, thì siêu vi có cơ may đột biến tế bào cổ tử cung.


Khi sự hấp thụ dưỡng khí của tế bào sa sút, sự bị o-xy hóa gia tăng, sức tống khứ các độc tố yếu kém, sự chuyển hóa dinh dưỡng tế bào đúng mức (eumétabolisme cellulaire) bị suy thoái, sức mạnh của tế bào bị hạ xuống kém siêu-vi.  Đó là những cơ hội tốt cho siêu-vi hiền biến thành siêu-vi ác gây bệnh.


Chúng ta vốn biết vi-trùng, vi khuẩn hay siêu-vi càng được nuôi dưỡng và sinh sản trong những môi trường tốt thì càng trở nên ác độc.  Khi một siêu-vi gặp thời cơ sinh sản trong một tế bào rồi tung ra những tế bào khác, sức mạnh của nó đột nhiên được gia tăng mãnh liệt.  Sự thắng trận đầu tiên nầy đã biến siêu-vi thành một giống siêu vi mới độc hại, rồi lây lan khắp nơi, đó la chưa kể hiện tượng đột biến giữa siêu vi với nhau để sinh ra siêu vi mới độc hại hơn.  Vì thế chúng ta thấy ngày càng xuất hiện thêm nhiều bệnh siêu-vi giết người và loài vật, cây cối. Nhìn chung, xã-hội loài người với chủ nghĩa hiện sinh, với đời sống vô luân  con người đã tạo ra điều kiện cho suy nhược tế bào cơ thể, đồng thời tạo cơ hội cho siêu-vi phát triển để tiêu diệt loài người.  


Những yếu tố khác như các bức xạ, X-quang, tia tử ngoại, những màu sắc hóa học và hàng trăm hoá chất khác trong thức ăn nước uống đều có tính chất gây ung thư.  Các bức xạ thì đốt cháy gây thương tích cho tế bào : Ví dụ các tia cực tím của ánh sáng mặt trời đốt phá làm tổn thương tế bào da khiến chúng mất đi tính chất đề kháng dễ bị siêu vi đột biến mà sinh ra bệnh ung thư da.  Các chất màu và hóa chất thì đem đến cho tế bào những phân tử bất bình thường (partenaires anormaux) phá hoại sự sống của tế bào cơ thể, làm chúng mất sức đề kháng.



X- Siêu-vi đột biến tế bào cơ thể thành tế bào ung thư có di truyền không?


Ung thư sinh ra từ đột biến của siêu vi trên tế bào cơ thể mất sức đề kháng, nên không thể có di truyền từ cha mẹ sang con cái, vì di truyền là truyền từ gène. Nếu gọi là di truyền thì có thể đó là di truyền tính chất miễn nhiễm sẵn có.  Sức miễn nhiễm yếu đuối của tế bào cơ thể trước sức mạnh đột biến của siêu vi cũng là một yếu tố quan trọng gây nên ung thư.  Như vậy ở đây có thể có sự di truyền tính chất đề kháng mạnh hay yếu từ cha mẹ.  Do đó siêu vi có thể tác động sinh ung thư dễ dàng.  Ngoài ra có thể kể thêm cách sinh sống cẩu thả của cha mẹ ảnh hưởng đến con cái, ví dụ cha mẹ nghiện cà phê, cần sa ma túy, thuốc lá, nghiện rượu,  hệ thần kinh mỏng manh vv.  Rồi đến môi trường, hoàn cảnh sống, và cách sống thiếu phòng vệ tinh thần cũng như vật chầt của con cái.  Chỉ có một tính cách di truyền, là di truyền từ tế bào ung thư mới sinh ra cho con cháu của nó, do sự đột biến giữa một loại siêu vi đặc biệt với một loại tế bào cơ thể nào đó ví dụ như tế bào vú, tế bào gan… mà thôi.


Sau khi siêu vi đột biến tế bào cơ thể để sinh ra tế bào ung thư, tính chất di truyền do siêu vi làm chủ đầu tiên được chứng minh rõ nét nhất là tính chất sinh vật độc bào, trong lúc tế bào con người là sinh vật đa bào.  Vì vậy khi định nghĩa rằng ung thư là một  sự sinh sản rối loạn của tế bào con người là hoàn toàn phải xét lại.


Khi môi trường nội tế bào mất hết sức đề kháng, ADN của siêu vi (ADN được biến thành ARN như đã nói trên) hoặc ARN của cực siêu-vi tự do lang thang đây đó, lọt vào đến nhân tế bào cơ thể, có lẻ vì đồng tính chất, hai  ADN của tế bào và ADN của siêu vi hút lấy nhau (Hình IX, X).  Hai ADN đón nhận, ôm choàng lấy nhau, kết hợp làm một (Hình XI). Thế rồi hai ADN được nối vào nhau (Hình XII) (như trường hợp tinh trùng và noãn tử kết hợp thành một ADN mới).  Lúc đó ADN mới sẽ bắt đầu sinh sản làm 2 làm 4 làm nhiều để sinh ra thật nhiều tế bào ung thư (Hình XIII, XIV, XV).  ‘ADN mới’ tạo một nhân mới có nhiễm sắc thể nhiều hơn số nhiểm sắc thể 46 của con người.  Đó là một tính chất chứng minh tế bào ung thư hoàn toàn không còn là tế bào cơ thể nữa.


Nhân mới này lấy luôn toàn thể phần còn lại của tế bào cơ thể mà cấu tạo nên tế bào mới. Như vậy toàn thể tế bào cơ thể hoàn toàn bị ADN của siêu-vi chiếm cứ để làm nên một tính chất riêng biệt là : Tế bào ung thư có hình dạng của tế bào cơ thể do siêu vi xâm chiếm, ví dụ tế bào vú, tế bào tử cung, tế bào gan, tế bào thần kinh vv.



Khi ADN của tế bào cơ thể bị chiếm mất tính chất di truyền thì tế bào cơ thể coi như đã bị tiêu diệt phần di truyền, nó không còn là tế bào cơ thể.  Siêu vi cũng biến mất bản chất siêu vi của nó khi nó phối hợp với tế bào cơ thể sinh ra tế bào mới.  Nhưng sự phối hợp nầy cho thấy tính chất độc bào nấm là riêng của siêu vi, nên siêu vi là kẻ mạnh làm chủ sự sống, nắm quyền chủ động về sinh sản, và trôi đi đây đó sinh tế bào ung thư con có tính chất di truyền của tế bào ung thư mẹ. Cái chết của tế bào cơ thể là hoàn toàn,  nó mất nhân và mất luôn phần vật chất của tế bào cơ thể, vì nó đã bị siêu vi cướp lấy để ghép vào nhân mới để sinh ra một tế bào hoàn toàn mới có những đặc tính di truyền riêng.


Sự đột biến của siêu vi  (độc-vi-siêu-bào vì nó không có dịch bào) sinh ra tế bào mới có đời sống độc lập giống nó nhưng lại đã được ghép thêm nguyên sinh, nên siêu vi biến thành một độc bào độc lập đầy đủ có đời sống riêng, đó là tế bào ung thư đầu tiên.


Như vậy phần tính chất di truyền siêu nấm và độc bào là của siêu vi làm chủ truyền lại. Và phần tính chất đa tế bào thực vật di truyền của tế bào cơ thể mất hẳn.  Chỉ còn lại là phần vật chất và hình dáng của tế-bào cơ thể được ghép vào cho siêu vi để tạo nên một tế bào mới.  Đó là sự đột biến của siêu vi trên tế bào cơ thể để sinh ra tế bào ung thư mà trong đó siêu vi nắm quyền chủ động sinh sống và tăng trưỡng.  Còn tế bào cơ thể bị tiêu diệt sự sống đa bào, chỉ còn để lại dấu tích là hình dáng bên ngoài mà thôi.


Thật vậy, phần thân thể của tế bào cơ thể đã bị dùng để ghép vào cho siêu-vi để nó có đủ yếu tố đột biến thành một tế bào mới.  Có thể nói rằng xác tế bào cơ thể bị thụ động theo sự sống của siêu vi.  Siêu vi chiếm tế bào cơ thể, siêu vi cấu tạo tế bào mới có hình dáng bên ngoài nguyên vẹn của tế bào cơ thể.  Vì siêu vi nắm quyền chủ động, và vì tế bào cơ thể đã chết khi nhiễm sắc thể không còn là 46.  Và như thế tính chất nấm siêu vi cũng truyền qua cho tế bào mới.


Như vậy là hoàn tất sự đột biến do siêu-vi chủ trương trên tế bào cơ thể, để tạo thành một tế bào mới hoàn toàn khác lạ, có những tính chất di truyền nấm đặc trưng mới. Tế bào nầy không còn là một thành phần đơn vị của cơ thể, cũng không còn là siêu-vi hay cực-siêu-vi, nó hoàn toàn là một tế bào nấm mới, độc bào độc lập và tăng trưởng cũng như được đưa đi phiêu lưu khắp cơ thể nhanh chóng.


Vậy là việc siêu-vi đột biến chính nó và tế bào cơ thể thành tế bào nấm mới đã hoàn thành. Đây là một hình thức ‘phối hợp’ (với tinh trùng và noản sào thì người ta quen gọi là thụ tinh)  mà trong đó siêu-vi hoàn toàn nắm quyền thống trị (caractère dominant).  Những biến chuyển trên có thể viết theo công thức sau:


ADN siêu-vi nấm độc bào + ADN cơ thể  --->  2 ADN đột biến hợp lại
2 ADN đột biến + Màng và dịch bào cơ thể (vật ghép) ---> Tế-bào nấm mới



XI- Sự hình thành tế bào ung thư nấm :


Như chúng tôi đã chứng minh ở trên rằng siêu-vi và cực siêu-vi có nguồn gốc thực vật, là một loại siêu-vi-nấm.  Vậy khi tế bào cơ thể biến mất vì bị chiếm ADN và dịch bào, hình hài tế bào cơ thể lập tức bị ghép vào với siêu-vi-nấm để cho ra đời ‘tế bào mới’.  Như trên vừa chứng minh ‘tế bào nấm mới lạ’ nầy là những sinh vật độc bào, sống ký sinh trong cơ thể con người và nó tự do, có một môi trường thuận lợi, quá đầy đủ chất dinh dưỡng để sinh sản.


Tế bào nấm mới lạ nầy hoàn toàn sinh sản tự do, và sắp xếp hổn loạn, vì mổi tế bào là một sinh vật riêng rẽ, chúng nó không tuân theo mệnh lệnh của cơ thể con ngưới, vì nó không còn thuộc về cơ thể.


Đó là sự hình thành tế-bào-nấm ký sinh trong cơ thể con người chứ không còn việc siêu vi ký sinh trong tế bào.  Sự sống tế bào cơ thể bị đột biến coi như hoàn toàn mất.  Mà dù cho tính chất động vật của tế bào cơ thể có còn tí nào đi chăng nữa nó cũng ở vào thể hoàn toàn tiềm ẩn, bị trị, tính chìm (récessif).  Trong lúc đó tính chất nấm và độc bào di truyền của siêu-vi hoàn toàn là những tính chất thống trị (dominant) đặc thù rất rõ nét.  Tế bào lai căng mới nầy vì vậy có một sức sống rất mãnh liệt, khó tiêu diệt vô cùng.


Vậy tế bào mới được sinh ra là một tế bào chẳng những hoàn toàn khác lạ với cơ thể trong tính chất di truyền mà nó còn khác về nguồn gốc, vì nó bị ảnh hưởng hoàn toàn vào nguồn gốc của siêu-vi nấm độc bào.  Trong việc cấu kết nầy, ADN của siêu-vi độc bào trở nên chủ-nhân-tính của tế bào mới được sinh ra do đột biến.


Bây giờ nếu nhìn qua kính hiển vi, bên ngoài tế bào có hình dáng của tế bào cơ thể như tế bào gan, tế bào vú, tế bào thần kinh vv.... Vì thế khi nhìn qua kính hiển vi thường, môn sinh học của tế bào ngày xưa của nền Y-học thế giới đã lầm nó suốt trên 50 năm nay. Vì thực chất thì tế bào cơ thể đã biến trở thành sinh vật độc bào độc lấp, có nguồn gốc thực vật là nấm, vì nó phải mang tính chất di truyền ADN nấm của siêu-vi là ADN thống trị trong tế bào mới.


Tuy tôi không có điều kiện nhìn ‘tế bào nấm đột biến mới’ này qua kính hiển vi điện tử.  Nhưng kính hiển vi điện tử sẽ chứng minh rằng ‘tế bào nấm mới’ mang một loại hình thù tế bào cơ thể, ví dụ tế bào vú, có một số nhiễm sắc thể hoàn toàn khác với tế bào con người. Số nhiễm sác thể của ‘tế bào nấm mới’ không còn là 46 nữa mà là  ‘46 + X’ (X là số nhiễm sắc thể của siêu vi).  X có thể thay đổi tùy loại siêu vi (?).


Hiện tượng xẩy ra đơn giản như chính siêu vi là sinh vật đột biến nhờ mặc lấy cái xác của tế bào cơ thể: Đây là sự đột biến do siêu-vi-nấm tác động, đột biến tế bào cơ thể thành tế bào nấm, là mấu chốt quan trọng của một tế bào động vật bị siêu vi gốc nấm gốc thực vật đột biến để cấu tạo một tế bào độc bào ‘nấm lai căn’ hay tế bào nấm lai tế bào động vật, tế bào thuộc giống mới.


Tuy tính chất di-truyền trong ADN của nhân tế bào mới có một tính khác lạ đối với cả siêu vi lẫn tế bào cơ thể, nó vẩn giống siêu-vi ở phần di truyền là nguồn gốc nấm, nó cũng giống siêu vi ở điểm đặc trưng là nó là một sinh vật độc bào.  Những tế bào mới độc bào nầy không bao giờ cấu kết với nhau để làm thành mô, trái lại mổi một tế bào là một sinh vật riêng biệt.  Điều nầy nói lên rõ ràng tế bào độc bào mới sinh do siêu vi đột biến hoàn toàn không còn là tế bào cơ thể nữa.


Như đã nói trên, có thể so sánh sự ‘kết hợp’ giữa siêu-vi và tế bào cơ thể với sự kết hợp giữa một noãn tử và một tinh trùng.  Chỉ khác nhau ở chổ trong trường hợp đầu là một cuộc xâm lăng mà siêu vi nắm quyền chủ động hoàn toàn và chỉ sinh ra những sinh-vật độc-bào, vì những tế bào được sinh ra đó phải mang tính chất gốc nấm, tính chất độc bào của kẻ xâm lăng thắng trận là siêu vi.  Trái hẳn lại với hiện tượng trên sự kết hợp giữa noãn tử và tinh trùng là một sự bổ túc cho một sự sống của sinh vật đa-tế-bào là con người.  Vì noãn tử và tinh trùng đều là sinh vật độc bào, vậy mà lúc chúng hợp lại thì sinh ra giống vật đa bào có tổ chức cao cấp.


Hình thể của tế bào mới được sinh ra có thể là tế bào vú, tế bào tử cung, tế bào gan, tế bào dạ dày, tế bào thần kinh vv.  Sự đột biến của siêu vi hoàn toàn không ảnh hưỡng đến hình dáng tế bào bên ngoài.  Vì thế trong quá khứ người ta đã lầm tưởng tế bào ung thư là tế bào cơ thể nên đã lên án tế bào ung thư là tế bào cơ thể sinh sản bất tuân lệnh cơ quan đầu nảo là thần kinh (prolifération cellulaire anarchique).  Nhưng khi hiểu rằng tế bào cơ thể đã biến tính thành một sinh vật nấm độc bào (être fongique unicellulaire) thì sự lên án nầy hoàn toàn không còn.


Giờ đây tế-bào-nấm mới sống ký sinh trong cơ thể con người một cách tự do thoải mái. Nó không còn tác hại tế bào như siêu-vi. Sự sinh sôi nẩy nở của nó nhiều mãi ra làm thành những chướng ngại vật để đè bẹp, lấn lướt, phá tan các mô và cơ-quan trong toàn cơ thể con người.  Như vậy, kết quả của sự đột biến của siêu-vi là sự sinh sôi nẩy nở lan tràn của tế bào nấm trong cơ thể, làm cho cơ thể tràn ngập hàng hà sa số sinh vật nấm sống ký sinh, kết chặt với nhau thành những khối cứng lớn nhỏ khắp cơ thể không chừa nơi đâu.


Trong việc đột biến của siêu-vi và tế bào cơ thể, siêu-vi bị tiêu diệt phần hình thức hạ đẳng của nó, nhưng nó giữ lại phần căn bản thiên nhiên nấm và độc bào thống trị. Tế-bào cơ thể thì bị tiêu diệt phần bản chất di truyền động vật nhưng lại giữ phần hình thức bên ngoài của tế bào. Đó là sự hình thành của một tế bào ung thư gốc nấm đầu tiên (hình XII, XIII, XIV, XV). Sự hình thành trên có thể viết ra:


Tế-bào mới + Tính chất nấm chủ động của siêu vi ---> Độc bào nấm mới
Độc bào nấm mới + Sinh sản tự do ở môi trường tốt ---> Nhóm tế-bào nấm




XII-  Sự hình thành ung thư và di căn :

Chỉ là vật ký-sinh trong cơ thể con người, độc-bào-nấm có một đời sống hoàn toàn độc lập đối với cơ thể.  Nó bắt đầu sống cuộc đời độc-bào-nấm-mới bằng cách sinh sản thật mau chóng.  Hơn y-học xa, cơ thể biết ‘độc bào nấm mới’ là một vật lạ đối với cơ thể.  Cơ thể phản ứng ngay, bằng cách tổng động binh các mô, bạch huyết cầu và ngay cả hồng huyết cầu (trong trường hợp cục máu đông trong lòng động mạch làm tắt mạch máu) đến bao vây để tiêu diệt ‘tế bào nấm mới’ lạ.  

Những độc bào ung thư mới do đột biến của siêu vi sinh ra trong cơ thể con người là một việc thường xẩy ra cho mọi người già trẻ luôn luôn.  Nhưng nhờ sức miễn nhiễm mạnh cơ thể chúng ta phản ứng ngay bằng tiêu diệt nó nên không sinh ra ung thư dầu là hiền.  Trường hợp cơ thể thất bại, độc bào nấm ung thư sinh sản nhiều ra làm thành bứu hiền, rồi từ bứu hiền trở thành bứu dữ tức ung thư.


Sách Sinh học Phân tử của Tế bào ngày nay nói rằng tế bào ung thư tiết ra một chất đặc biệt làm phát sinh nhiều tia máu để nuôi dưỡng tế bào ung thư (Biologie moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8/1990, trang 965).  Người ta đã nghiên cứu thí nghiệm bằng cách ghép một mẩu nhỏ ung thư vào mắt (Hình XVI), ung thư  phát triển nhanh chóng (hình XVII); đồng thời các tia máu trong mắt cũng mọc lên ào ạt bao vây ung thư (Hình XVIII).

‘Sinh học Phân tử chính thống’ giải thích hiện tượng các tia máu như sau: rằng là một vật lạ được ghép vào cơ thể tiết ra một chất đặc biệt để kêu gọi các tia máu mọc đầy lên hầu nuôi dưỡng vật lạ đó tức là ung thư (Biologie moléculaire de la Cellule, do Bruce Albert, Dennis Bray, Julian Lewis, Martin Raff, Keith Robert 2ème Ed. tháng 8/1990, trang  965).  Đây có thể là một giải thích thiếu sót.

Tại Đại học Havard Mỹ người ta cũng đã nghiên cứu thứ thuốc hóa chất kịch độc để chận đứng sự sinh sản những tia máu bao vây quanh ung thư, với mục đích giảm chất nuôi dưỡng ung thư để nó không có chất nuôi béo bổ, hầu làm chậm lại sự phát triển của ung thư.  Việc nghiên cứu nầy đã được nhận đon xin cấp Bằng Phát Minh số : 5,512,591 của Hoa-Kỳ.

Lý luận như trong bằng phát minh số 5,512,591 của Hoa-Kỳ là một điều lầm lẫn tai hại vô cùng.  Lý luận như vậy thật là oan cho cơ thể, vì cơ thể làm sao tuân lệnh độc bào ung thư nấm ký sinh để sinh nhiều mạch máu nuôi nó dễ dàng như vậy được.

Theo chúng tôi, rõ ràng sức đề kháng của cơ thể trước vật lạ xâm chiếm cơ thể chính là sự sinh sản những tia máu mọc nhiều vô số kể bao vây ung thư.  Chúng tôi khẳng định rằng những tia máu được mọc lên chen chúc tới tấp để đem lại những bạch huyết cầu hầu tấn công độc bào  lạ và sự sinh sôi nẫy nỡ của nó trong cơ thể chứ không thể để nuôi vật lạ ấy được.  Nhưng tiếc thay, sức đề kháng thất bại, nên khí giới dùng để giết kẻ thù trở thành chiến lợi phẩm của kẻ thù.


                                         

Nhưng những tia máu mọc lên rườm rà đó không phải lúc nào cũng thất bại đâu. Đây chúng ta hãy nhìn, những mụt ruồi xanh, đỏ, nâu, đen là những cụm tế bào ung thư sống tiềm sinh trong ốc đảo. Sở dĩ chúng bị nhốt trong ốc đảo sống tiềm sinh như vậy là nhờ có một lực lượng quân đội tia máu mang đầy bạch huyết cầu đến trường kỳ kháng chiến bao vây chúng mãnh liệt (Hình XVIII, cấu trúc của mụt ruồi) : -1- các tia máu sinh sản giàu mạnh bao vây tế bào ung thư tiềm sinh; -2- tế bào ung thư tiềm sinh; -3- lớp biểu bì; -4- lớp chân bì; -4- lớp mở dưới chân bì).  Những tia máu nầy đóng nguyên chổ mãi mãi suốt đời người để canh gác, không cho những tế bào ung thư tiềm sinh trong mụt ruồi phát triển vào trong cơ thể.  Nhưng nếu cơ thể yếu các độc bào ung thư thắng, chúng sẽ vùng chổi dậy, đánh tháo vòng vậy lan tràn, đổ vào máu và bạch huyết mà vào cơ thể. Chúng lập tức sinh ra ung thư màu đen cứng giống mụt ruồi, gọi là Mélanome, loại ung thư nầy rất mạnh, tiêu diệt nó thật chua cay.

Là sinh vật mới, sống trong môi trường bổ dưỡng, mổi độc bào ung thư đều tự lực cánh sinh, sinh sản rất nhanh. Chúng có đời sống độc bào riêng rẻ sống chen chúc vào nhau, nên độc bào ung thư nấm có nhiều hình dáng lớn nhỏ méo mó không đều.  Nhân tế bào ung thư sinh sản, chia cắt quá nhanh nên nhiều tế bào có nhiều nhân, chen chúc lấn lướt nhau đeo cứng lấy nhau làm thành một khối cứng lởm chởm, sần sùi không có màng bọc ngoài như bứu hiền.  Mổi tế bào nầy đều có một đời sống riêng rẻ, hoàn toàn không liên hệ với nhau, nhưng chúng kết tụ thành đủ loại hình tùy theo môi trường.  Các tế bào bên ngoài mọc tự do hơn thành dây mọc rễ bấu vào các tế bào cơ thể và chui vào các mô và cơ quan xung quanh khiến cho cục bứu dính chặt vào các mô xung quang, hoặc rơi rụng theo dòng máu hay bạch huyết di chuyển đi khắp nơi, đi đến sự hình thành ung thư tổng quát với di căn  (Hình XXII, XXIII, XXIV).

Những tế bào ung thư nào kết chặc lỏng lẻo với khối ung thư thì dễ rơi rụng vào máu và bạch huyết rồi được dẩn đi khắp nơi (Hình XXII, 42, 43). Nơi nào một độc-bào-nấm ung thư bị giữ lại, phổi, gan, ruột, não bộ vv... lập tức nó sinh sôi nẫy nỡ thành những khối ung-thư-con hay di-căn lớn nhỏ khác nhau. Đó là sự hình thành những di-căn của ung thư mẹ (métastases).

Thường các tế bào ung-thư di căn phổi rất dễ biết nhờ triệu chứng ho và X-quang, chúng phát triển rất nhanh nhờ nguồn dưỡng khí phong phú trong phổi để rồi phá hoại cơ quan thiết yếu sinh tử của cơ thể.

Các hạch-bạch-huyết bắt giữ lại những tế bào ung thư nấm trôi dạt theo dòng bạch huyết để tiêu diệt.  Nhưng các bạch huyết cầu trong hạch-bạch-huyết hoàn toàn bất lực trong việc tiêu diệt tế bào ung thư nấm. Do đó tế bào ung thư nấm sinh sôi nẩy nở thành di-căn ngay trong hạch bạch-huyết làm cho các hạch phồng to lên rất nhanh (ví dụ hạch cổ, hạch ngực, hạch nách trong ung hư vú vv.).  Đây là thí dụ về sự thành hình những ung thư cấp 2, hay di-căn do các các tế bào ung thư nấm lan ra hoặc trôi dạt đi xa gây nên.  Chỉ một thời gian ngắn, tế bào ung thư theo máu và bạch huyết mọc khắp cùng cơ thể.

Cục ung thư cấu kết như trên làm nên một khối có một bề mặt bên ngoài gồ ghề lởm chởm sần sùi và có độ cứng rất cao, đặc tính của loài thảo mộc.  Cũng chính nhờ vào tính chất cứng và sần sùi đó mà khi sờ tay vào các bác sĩ khẳng định ngay là ung thư.

Chúng ta có thể ví von ung thư tổng quạt trong cơ thể như một cái ‘cây cách điệu’ hay ‘cây chấm phá’ (Hình XXV) do ung thu mẹ và vô số ung thư con nắm rãi các khắp nơi tạo thành.  Chúng tượng trương cho "cây ung thư cách điệu" có gốc có nhành có nhánh chắc cứng, cây được tạo thành bởi những khối nhỏ rời rạc khắp nơi, chứ không có một cấu trúc thực vật đa tế bào. Đó là một cây nấm ‘cách điệu’ (arbre fongique stylisé) nằm lan tràn nhiều ít khắp nơi trong cơ thể.  Mổi tế bào của cây nấm đó hoàn toàn có một đời sống độc lập và có khả năng sinh sản riêng tư không ngừng.  Cây nấm vô hình đó được cấu tạo bởi những tế bào nấm rời rạc nhờ sự sinh sôi nầy nở và lan tràn mau chóng và nhờ yếu tố máu và bạch huyết dẫn đi liên tiếp mãi. Chính cái cây nấm ‘cách điệu’ ung thư không liên tục nầy, sinh ra và lớn lên không ngừng đã choán hết chổ sống và sinh hoạt của tế bào, mô và cơ quan gây nên sự tiêu diệt bất khả kháng của cơ thể con người.  Nhìn những con nấm giấm người ta nuôi để ăn trong bình thủy-tinh, liên kết với nhau thành một mảng lớn, khi lấy riêng ra một tí nhỏ, chỉ cần vài tế bào nấm đem cấy nơi khác, ít lâu sau những tế bào nấm sẽ mọc nhiều ra, liên kết với nhau thành những  tảng nấm khác.

Sự hình hành ung thư và di căn trên có thể viết ra như sau:

Tế-bào nấm ký sinh +  Sinh sản tự do và  kết bứu---> ung-thư
Ung thư + máu, bạch huyết đưa ung thư đi + sinh sãn-----> di căn
Ung thư mẹ +di căn khắp cơ thể  ---> cây nấm ‘cách điệu’


XIII - Những đặc tính của tế bào ung thư nấm :

Theo lý luận của chúng tôi, số nhiểm sắc thể ADN trong tế bào ung thư là tổng số của hai nhóm ADN của siêu-vi và của tế bào cơ thể. Chúng tôi chỉ suy luận mà chứng minh như vậy. Các phòng thí nghiệm có kính hiển vi điển tử chỉ cần điếm số nhiễm sắc thể trong nhân của tế bào ung thư sẽ thấy ngay số nhiễm sắc thể nầy lớn hơn số 46 là số nhiễm sắc thể của tế bào loài người.

Cuộc sống của mổi tế bào ung thư riêng biệt, không lệ thuộc và cũng không giống một sự sống của tế bào ung thư nào khác, kể cả tế bào ung thư mẹ. Rõ ràng mổi tế bào ung thư là một sinh vật độc bào. Cục bứu ung thư chỉ là sự kết chùm, đóng cứng, chen lấn của hàng tỉ tỉ tỉ tế bào ung thư nấm.

Như đã nói trên tế bào ung thư rất mỏng manh, thường sinh ra những tế bào có hình dáng bất thường, tật nguyền, tế bào đa nhân lớn nhỏ không đều vv. Cũng rất tự nhiên vì nó là một giống tế bào mới được cấu tạo đột xuất.  Tế bào ung-thư không dính liền nhau để sinh ra một loại mô nào, không theo một hình dạng nào. Vì  lý do đó mặt ngoài của những cục bứu ung thư thường có dáng lởm chởm, sần sùi, rời rạc, bên trong thì chen chúc keo chặc đặc cứng.

Sự kết cấu tế bào nấm ung thư nầy hoàn toàn tùy thuộc môi trường sống. Ung thư thường có hình dài ở những nơi có hình ống như phế quản, thực quản hoặc ruột già (Hình XXIII). Những nơi được mọc tự do ung thư biến thành những ụ lởm chởm giống như mụn trùn đất hay hình thạch nhủ (stalactite) (Hình XXIV: 55, ung thư vú ). Đó là nhưng di-căn ở mặt sau xương sườn lồng ngực trong ung thư vú mà chính tôi đã nhìn thấy lục mổ tử thư ở bệnh viện Paris, nay xin vẻ lại theo trí nhớ (Hình XXIV). Ung thư  thường có hình tròn trong các mô mềm như ung thư vú.

  

Không chổ nào trên cơ thể mà tế bào ung thư không có dịp đóng lại và sinh sôi nẩy nở ngay vào những thời kỳ hoạt động sớm nhất của ung thư. Y-khoa chính thống thế giới chưa có cách nào để có thể chẩn đoán những di căn ung thư li ti khắp nơi trên cơ thể con người.  Mà dầu có nhìn thấy thì tuyệt đối việc giải phẩu là vô phương, và điều trị bằng X-quang và hóa học trị liệu cũng chỉ là một việc làm tạm bợ, có tính cách sát nhân vì chẵng những không giết được tế bào ung thư mà lại giết tế bào cơ thể trước vì mọi thuốc hóa chất chống ung thư đều quá độc, độc cho tế bào cơ thể hơn là độc cho tế bào ung thư.

Như vậy bệnh ung thư là một bệnh có tính cách nội khoa, tổng quát chứ không phải là bệnh cục bộ có thể khoanh lại một vùng mà trị.  Vì thế việc giải phẩu dầu là rất sớm cũng chỉ có tính cách chữa tạm thời, kéo dài sự sống mà thôi.

Sự hiện diện một số vừa phải của những tế bào nấm ung thư ký-sinh trong cơ thể hoàn toàn không gây một triệu chứng nào. Tại sao ?  Từ đầu những tia máu bao vây ung thư đã thất bại, ung thư đã thành công chiếm cơ thể và cơ thể đã quen chịu đựng chúng rồi, nên còn phản ứng gì nữa. Vả lại từ đầu siêu-vi nấm đã lấy mọi chất liệu cần thiết từ tế bào cơ thể để đột biến thành tế bào ung thư nấm.  Như vậy ngoại trừ ADN (ADN tế bào ung thư > ADN tế bào cơ thể) phần còn lại của tế bào ung thư không khác gì tế bào cơ thể. Nó có tình bà con gần, có cùng bản chất thực vật (état soma-végétatif) với tế bào cơ thể, nên cơ thể dần dần quen thuôc, chấp nhận sự sống ký sinh của những tế bào ung thư nấm một cách dễ dàng, không gây phản ứng lắm và không cảm thấy khó chịu khi tế bào ung thư chưa làm phiền đến sinh hoạt sự sống của cơ thể.

Do đó sự phát triển của những tế bào ung thư nấm ký sinh tương đối yên lặng, không sinh các hiện tượng đối kháng của cơ thể, như lên cơn sốt, sưng đỏ, đau nhức, không có hiện tượng dị ứng, số bạch huyết cầu không gia tăng ầm ỷ, mãi cho đế khi cục bứu ung thư to lớn đè nén tế bào cơ thể và phá hại chức năng các mô, các cơ quan....!!!  Khi sự lan tràn của tế-bào ung-thư-nấm xâm chiếm các mô một cách quá đáng, rồi lại xâm chiếm các cơ-quan, chèn ép đến phá hoại sự hoạt động của các mô và cơ quan mới gây khó chịu cho cơ thể thì ôi thôi ! quá trể !  Chèn ép đến đụng độ, tiêu hủy các tế-bào thần kinh mới làm cho cơ thể đau đớn.

Những triệu chứng bệnh lý xẫy ra tùy cơ quan bị xâm chiếm.  Nếu tế bào thần kinh bị xâm chiếm thì sinh ra các triệu chứng thần kinh và tâm thần.  Khi tế bào phế quản, phổi bị xâm chiếm thì sinh ra triệu chứng ho, nghẹt thở. Khi tế bào ruột bị xâm chiếm sinh ra táo bón, đi cầu ra máu vv. thì ung thư đã lan tràn đầy khắp trong cơ thể không chừa một nơi nào.




XIV- Sự hình thành bứu hiền :

Không người nào trong chúng ta từ lúc sinh ra cho đến lớn mà không có bứu hiền trong người. Những bứu ấy thường có kích thước từ nhỏ bằng hột tấm, hột tiêu đến lớn bằng quả bóng bàn đó là trường hợp những mụt ruồi nhỏ đến những bứu mở dưới da (lipome).


Điểm đặc biệt của bứu không độc là chúng thường có hình dạng tròn, được bao bọc dày đặc bằng những lớp mô không dính cứng vào cơ quan nào, không có tia máu bao vây ồ ạt bên ngoài. Trạng thái của bứu không độc thường mềm, mền vì đó là chất liệu động vật của cơ thể. Nó không sưng đỏ, không làm mủ, không gây đau nhức.

Những bứu không độc nầy có khi tự dộng tiêu đi, có khi phát triển đến một độ nào đó rồi ngưng.  Nó chỉ làm cho người có bứu khó chịu vì cấn cái mà thôi.  Để chữa trị, các giải phẩu gia cắt nó đi dễ dàng, không có một lời giải đáp nào về nguyên nhân hay hậu quả. Thường khi người ta cũng thử nghiệm tìm tế bào ung thư trong bứu hiền.


XV- Bứu hiền phát triển thành ung thư:

Người ta thường gặp những trường hợp loại bứu hiền biến tính, trở thành bứu độc, tức là biến thành ung thư. Chúng ta thữ tìm hiểu tại sao đột nhiên cơ thể sinh ra một cục bứu tuy là bứu hiền như vậy?  Chúng ta cũng tìm hiểu xem tại sao bứu hiền lại biến thành ung thư ?



Trên kia chúng tôi có nói rằng cơ thể chấp nhận những tế bào ung thư sống ký sinh không phản ứng.  Đó là sự bất đắc dĩ, cơ thể phải tự làm quen dần với sự sống chung với ung thư  khi cơ thể không chống được.  Trên thực tế, ngay tự ban đầu khi tế bào ung thư hình thành, cơ thể đã cố hết sức kháng cự để tiêu hủy những tế bào ung thư đầu tiên. Đây là trường hợp tương tự phương pháp giải trừ phản ứng của cơ thể đối với những chất dị ứng.

Khi có một tế bào đột biến thành tế bào ung thư trong cơ thể, hệ thần kinh của cơ thể mạnh khỏe cảm nhận ngay.  Cơ thể liền phản ứng bằng cách sinh ra những tế bào của các mô, mô sợi, mô liên kết, mô mở, các bạch huyết cầu, hồng huyết cầu, các thực bào (tissu épithélial, tissu conjonctif, les cellules macrophages ...) tới tấp dồn tới bao vây tế bào ung thư để tiêu diệt.  Tế bào ung thư  càng vùng vẫy sinh sãn, tế bào và các mô càng phát triển kháng cự mạnh làm cho bứu càng lớn để xiết chặc vòng vây và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Cơ thể phản ứng liên tục không ngừng bằng cách sinh ra các mô ngày càng dày đặc để bao vây các tế bào ung thư.  Đó là sự hình thành bứu hiền (Hình XIX).

Vì thế, theo chúng tôi, sự hình thành bứu hiền là một phương cách đề kháng mãnh liệt và hiệu quả của cơ thể mạnh khỏe và nhạy cảm khi có sự xuất hiện tế bào ung thư.  Vậy cơ thể huy động các mô bao vây chống lại sự phát triển của những tế bào ung thư đầu tiên sinh ra trong cơ thể bằng sự cấu tạo nên bứu hiền.  Đây là phản ứng đề kháng của cơ thể mạnh mẽ và nhạy cảm.  Phản ứng đầu tiên có mục đích giết tế bào ung thư sơ khởi.

Những tế bào các mô của cơ thể bao vây chặc tế bào ung thư là những tế bào gốc của cơ thể vâng lệnh hệ thần kinh để cứu cơ thể sinh tồn.  Những tế bào của các mô nầy cấu kết với nhau làm thành một mô bình thường khác hẳn với hình dạng tế bào ung thư rời rạc và chèn ép hổn độn lẫn lộn với nhau. Vì thế chúng ta thấy bứu hiền có hình các mô liên kết với nhau hài hòa thành một bức tường thành có màng bao bọc (Hình XIX, 37, 39).  Bức tường thành nầy hoàn toàn không phá hoại các mô lân cận. Nhìn qua hiển vi chúng ta sẽ nhận rõ sự liên kết các mô trong bứu hiền khác xa với hình dạng các tế bào rời rạc trong bứu dữ tức ung thư (Hình XXI).  Sự cách biệt xa xuôi như vậy nên ung thư chỉ đáng gọi là ung thư (cancer) mà thôi, không nên gọi là bứu dữ (tumeur maligne), vì không cùng thể chất với bứu hiền, có thể gọi là bứu nấm.

Trở lại cuộc bao vây của cơ thể quyết đấu tranh chống các tế bào ung thư đầu tiên trong bứu hiền (Hình XIX, 38).  Cuộc đấu tranh nầy thật là cam go. Nếu cơ thể mạnh, thắng, những tế bào ung thư bị tiêu diệt hoàn toàn.  Sau khi tế bào ung thư bị giết hết, các mô bao vây hết trách nhiệm sẽ dần dần tan biến, và khối bứu biến mất.  Đó là hoàn cảnh may mắn nhất.  Tuy nhiên rất là hiếm hoi.  Chúng ta có thể quan sát hiện tượng nầy trên sự kiện mụt ruồi biến mất ở người lớn.  Nhưng thường thì các tế bào ung thư mạnh, quyết trường kỳ kháng chiến, không thắng được, chúng tạo nên một cuộc sồng tiềm sinh trong ốc đảo của chúng và chờ đợi.  Trong trường hợp nầy cuộc bao vây của cơ thể cũng trường kỳ kháng chiến.  Bứu hiền vẩn cứ tồn tại mãi.

Tất cả những hiện tượng trên là những phương cách đặc thù của cơ thể nhằm mục đích phòng vệ, chống cự sự phát triển của cực-siêu-vi, sự đột biến của siêu vi và các tế bào ung thư.  Những bứu mở bám vào thành động mạch sẽ nói đến sau đây, cũng như sự dày ra của thành tĩnh mạch cũng chỉ là những hình thức sinh bứu giúp cơ thể ngăn chặn sự phát triển bịnh tai hại cho cơ thể.  Vì thế trị liệu bằng cách nông rộng mạch máu bị nghẻn mà thôi, hoặc lấy chất mở đóng trên thành động mạch, và cắt đi những tĩnh mạch bị sưng lớn và dài ra thì chỉ là việc làm tiêu cực bất đắc dỉ.

Nhưng nếu vì một lý do nào đó, sức đề kháng cơ thể sút kém, sức phòng vệ của các mô suy yếu  không giữ nổi vòng vây, không ức chế sự tăng trưỡng của tế bào ung thư được, tế bào ung thư bèn trổi dậy phát triển mạnh mẻ, tiêu diệt những mô bao vây nó dần dần (Hình XX).  Thế là tế bào ung thư thắng. Chúng biến ngay bứu hiền thành ung thư (Hình XXI). Đó là hiện tượng ung-thư-hóa (phénomène cancérigène ou phénomène néoplasiant) của những bứu hiền thành ung thư.  Vì thế để đề phòng người ta cắt bỏ bứu-hiền càng sớm càng tốt.

  

 
         
4 giai đoạn: Từ bứu hiền đến ung thư tổng quát


XVI- Những bệnh siêu vi :

Cho đến ngày nay, Y khoa chính thống thế giới đã tìm ra và trị lành hẳn hay không lành một số lớn bệnh siêu vi, từ bệnh Đậu mùa, bệnh Sưởi, bệnh Thủy đậu (Zona), bệnh Trái dâu (Herpès), bệnh Liệt kháng, bệnh Viêm gan A, B, C, D, E vv...

Với một luận cứ táo bạo đặt căn bản trên những kinh nghiệm lý thuyết và lâm sàng chúng tôi đưa bước đầu ra đây, rằng hầu hềt những căn bệnh nan trị mà Y-khoa chính thống thế giới từ trước đến nay vẩn gọi là những bệnh ‘không biết nguyên nhân’, ‘không biết trị liệu’, kể cả ‘không biết đề phòng’ đều có nguồn gốc siêu vi.

Có thể kể bệnh Cao huyết áp, bệnh Việm tĩnh mạch, bịnh thần kinh tiêu cơ hay bệnh Charcot (Slérose latérale amyotrophique) bệnh Tim, bệnh Dạ dày, bệnh Suyễn, bệnh Dị ứng, bệnh Tiểu đường, bệnh Việm động mạch chân, bệnh Vở hay Nghẻn động mạch nảo, bệnh Viêm thận mãn tính, bệnh Viêm khớp, bệnh Xơ nảo (sclérose en plaque), bệnh Rổng tủy sống (Syringomylie, bệnh Charcot), bệnh Thần kinh (Sclérose en plaque), bệnh úng thủy não trẻ em, các bệnh mắt như Viêm mí mắt mãn tính (Blépharite), bịnh Đục thủy tinh thế mắt (nhản cầu mắt), bệnh Cao áp xuất mắt (Glaucome), bệnh Tâm thần vv...

Vì với quan niệm rằng không có gì xẩy ra bất thường mà không có nguyên do của nó.  Không thể tự dưng sinh những triệu chứng bệnh hoạn, phải có nguyên nhân.  Tất cả mọi sinh vật từ thực vật và động vật hạ cấp nhất đến loài người, được sinh ra lớn lên rồi suy tàn bằng những triệu chứng gọi là bệnh mà đặc biệt là bệnh nan trị.  Nguyên nhân nào đã sinh ra những bệnh như vậy.  Đó là sự khấy phá của hàng tỉ tỉ tỉ vô tận giống siêu vi, càng ngày càng nẩy nở sinh ra thêm.  Chúng phá nát phần tử nào của cơ thể yếu nhất để sinh ra bệnh của cơ thể ấy.  Những chứng bệnh nầy khởi đầu âm thầm, không sưng đỏ, không đau nhức, không triệu chứng, đặc biệt những trườg hợp mãn tính, thực sự đó là những bệnh có nguồn gốc siêu vi.

Ví dụ bệnh Cao huyết áp, đang cười nói vui vẻ, ăn uống ngon lành, ngã ra chết hay bán thân bất toại, câm điếc đui què. Vì thế Y-khoa thế giới khẳng định rằng bệnh Cao huyết áp là một tên sát nhân âm thầm vô hình dáng, đi trong bóng tối để giết người nhanh chóng còn độc địa hơn nọc độc nhất của rắn rít, và dã man hơn bom nguyên tử, nó giết người đang mạnh khỏe một cách bất ngờ không rớt ra một giọt máu.  Những bệnh viêm không sưng nung mủ, không đau nhức buộc chúng ta nghĩ đến nguồn gốc siêu vi, nguồn gốc nấm.

Chúng ta thữ nói về tính cách sinh lý của vài bệnh Cao huyết áp. Bình thường lượng máu trong huyết quản thay đổi luôn đối với tất cả mọi người, tất cả mọi lứa tuổi. Khi đói khát, xa bữa ăn huyết áp hạ xuống, lúc ăn uống no nê, huyết áp tăng lên cao, khi buồn, suy nhược huyết áp hạ, khi vui vẻ hưng phấn huyết áp lại cao lên.  Tính chất đàn hồi của động mạch rất cần thiết cho lượng máu bất thường của cơ thể.  Nó nhờ vào sự phối hợp giữa thần kinh và tính chất đàn hồi của các mô sợi thun giản của thành động mạch.  Hệ thần kinh và các mô sợi có khả năng làm cho thành động mạch giản nở ra hoặc co rút lại để giữ huyết áp không thay đổi.

Như vậy theo nguyên tắc thì huyết áp không bị lên xuống bất thường thái quá đối với mọi người.  Nhưng tại sao có rất nhiều người bị bệnh Cao huyết áp động mạch (Hypertension artérielle) ?  Y-khoa hiện tại nói rằng vì thành động mạch mất tính chất đàn hồi của nó nên huyết áp tăng.  Đúng như vậy. Nhưng vì lý do nào mà thành động mạch mất đi tính chất đàn hồi của nó ?  Y-khoa hiện tại chỉ trả lời đại khái  vì nội tiết, vì tuổi già, vì di truyền.

Chúng tôi suy luận rằng, trong trường hợp tế bào thành động mạch bị siêu vi đột biến hay tác hại, cơ thể liền có nhiều phản ứng bảo vệ. Thứ nhất bằng cách sai những tế bào mở hay cholestérol đến bao vây chặt chẻ các siêu vi không cho chúng lủng đoạn mô thành tế bào, đồng thời làm thành những bứu lớn nhỏ bám vào thành động mạch làm cho no dày ra, cứng lại và dễ dàng làm nghẻn lòng dộng mạch.  Thứ nhì các mô sợi bị siêu vi tấn công tự động gồng cứng thường xuyên để tự vệ làm cho mô sợi mất tính chất đàn hồi của thành động mạch.  Do đó thành động mạch sinh ra cứng và giòn không còn khả năng đàn hồi.  Thứ ba, hệ thần kinh trở thành bất lực không thể làm giản nở hay co rút lại một cách tự động thành động mạch.

Như vậy sự lưu thông và áp huyết máu trong các động trở nên bất bình thường một cách tai hại, đặc biệt là động mạch não, động mạch tim, động mạch chân, nguyên nhân chính của các thứ bệnh tim-mạch nguy hiểm. Bệnh Cao áp xuất nhản cầu mắt cũng cùng có một nguyên lý như trên. Các cơ bao bọc nhản cầu cũng có tính chất đàn hồi. Nhưng khi nó bị nhiễm siêu vi mãn tính lâu ngày,  nó bị mất tính chất đàn hồi nên áp huyết nhản cầu gia tăng sinh bệnh Tăng áp mắt (Glaucome).

Khổ thay, những phản ứng để phòng vệ cơ thể tạm thời, đồng thời cũng chính là những yếu tố giết dần cơ thể nhưng giết chậm hơn. Trong các bệnh nghẻn động mạch người ta dùng khoa phẩu thuật móc những bứu mở, bứu Cholestérol ra khỏi động mạch để kéo dài đời sống, bệnh nhân tạm sống ngày nào hay ngày ấy. Cho nên việc cắt những bứu mở, bứu cholestérol không phải là trị liệu tận gốc, trị nguyên nhân do siêu vi mà chỉ trị tạm thời (traitement palliatif). Cũng thế khi các tĩnh mạch bị tấn công nó lớn lên, thành tĩnh mạch dày ra, ruột tĩnh mạch tóp nhỏ co thắt lại, vãy nên sinh ra bệnh sưng tĩnh mạch (phlébyte) lớn lên nhưng lòng thì tóp lại, sự lưu thông khó khăn có khi bế tắt. Đây cũng là phản ứng cơ thể để ức chế siêu vi và bảo vệ tĩnh mạch như trường hợp động mạch.
Thử lấy một ví dụ rất thường gặp là nám da mặt mà đàn bà rất ngại. Siêu vi luôn có mặt trên tế bào biểu bì (lớp da mỏng ngoài). Gặp cơ hội thuận tiện là nó ăn lan vào tế bào chân bì (lớp da trong) và bị chận lại làm thành màng đen. Khi tế bào da dần dần chết và lột đi, siêu vi tiếp tục lan từ lớp tế bào nầy sang lớp kế làm cho lớp da mặt nám cứ tồn tại mãi. Trong các Mỹ-viện, người ta thường dùng phương pháp lột da mặt để chữa bệnh nám da. Nhưng khi siêu vi ăn sâu vào chân bì thì lột rồi nó vẩn mọc lại tự do thoải mái. Nhưng nếu hệ thần kinh hài hòa, dưỡng khí đầy đủ, sức đề kháng của tế bào gia tăng, siêu vi sẽ bị tiêu diệt và da nám tự nhiên biến mất. Nám da là một triệu chứng bệnh của da mặt do siêu vi. Siêu vi chỉ thắng tế bào da, lúc tế bào mất nguồn sinh lực. Nguồn sinh lực nầy do hệ thần kinh tự trị cung cấp. Vì thế chúng ta có thể tự luyện tập ý chí và cơ thể để tạo cho mình nguồn nội lực chống siêu vi ngay trong phương pháp đề phòng bệnh ung thư và các bệnh siêu vi.


XVII- Những giả thuyết về bệnh siêu vi có chứng minh :

Cho đến ngày nay, Y khoa  chính thống quốc tế đã phân biệt một nhóm bệnh siêu vi mà chữa trị thành công hay không : Bệnh Đậu mùa, bệnh Thủy đậu, bệnh Liệt kháng, bệnh Viêm gan siêu vi A, B, C….  Với một suy luận táo bạo nhưng có căn bản trên một số kinh nghiệm suy luận lý thuyết và hiệu quả chữa trị, chúng tôi dám đi bước tiền phong ngay rằng nguồn gốc của hầu hết bệnh mà nguyên nhân và trị liệu không biết hay chỉ là biết chữa ngọn thì đều là bệnh do siêu vi tấn công, bịnh siêu vi.

Xin kể bệnh Cao huyết áp, bệnh Suyễn, bệnh Tiểu đường, bệnh viêm thận mãn tính, bệnh Xơ cứng não, bệnh Teo cơ với chuột rút, bệnh Viêm khớp, bệnh Việm động mạch chân, các bệnh Thần kinh, bệnh Tâm thần, bệnh Cườm mắt vv…  Chúng tôi đã có nhiều thành công trong việc chữa trị các bệnh trên bằng cách dùng thuốc chống siêu vi-nấm.    

Khi quan niệm rằng không thể có hiện tượng lạ mà không có nguyên nhân, thì chúng ta nên thận trọng nghĩ rằng viêm siêu vi thường là sự thật, nó không gây đau đớn hay sưng đỏ nung mủ như viêm do vi trùng gốc động vật.

Tất cả các sinh vật dầu động hay thực được sinh ra lớn lên và cuối cùng tàn tạ suy thoái và chết. Tại sao vậy? Sự sinh hoạt sống động của hàng tỷ tỷ tỳ… siêu vi trong cơ thể con người chờ đợi thời cơ, đột biến không ngừng để tiêu diệt tất cả mọi sinh vật.  Lấy ví dụ : Bệnh tăng huyết áp. Trong hiện tượng điều hòa của huyết áp, áp lực máu tăng hay giảm luôn tùy theo trạng thái hệ thần kinh và dinh dưỡng. Vậy thì tại sao huyết áp người già thường đặc biệt cao không thay đổi. Hiện tại Y khoa cho rằng đó là do thành động mạch bị co cứng nên làm mất tính chất đàn hồi của nó do di truyền hay do hốc môn.  Thật ra một yếu tố quan trọng là thành động mạch bị siêu vi quấy phá thì nó chống lại bằng : Nó tổng đông binh các tế bào và phân tử mở và cholestérole để bao vây siêu vi. Thứ đến là các mô đàn hồi co rút lại để tự đề phòng làm mất tính chất thun giản của động mạch. Do đó, thứ ba là hệ thần kinh độc lập không còn khả năng trên tính chất đàn hồi của động mạch. Kết luận lại là bệnh cao huyết áp cũng là do nguyên nhân phá hoại của siêu vi.
Trong các bệnh mắt cũng vậy, khi nhản cầu bị siêu vi tấn công, phản ứng tự vệ làm co thắt các cơ và huyết áp nội nhản cầu gia tăng làm hại mắt. Nguyên nhân lại cũng do siêu vi. Trong các bịnh thần kinh, tâm thần, siêu vi phá hoại tủy sống, hệ thần kinh trung ương từ đó sinh ra biết cơ man nào là bệnh nan trị, nan y cho toàn cả cơ thể con người ví dụ như bịnh teo cơ, bệnh Charcot vv... Nói tóm lại, không có bịnh nào mà không có nguyên nhân, mà nguyên nhân chính là sự hiện diện quấy phá của siêu khắp cơ thể con người khi sức miễm nhiễm của cơ thể bị suy sụp, nhất là đối với người cao niên.


XVIII-  Phương pháp trị liệu ung-thư và bệnh siêu vi  :

Việc tìm ra nguồn gốc chỉ là bước đầu tiên trong việc chống ung thư một cách hữu hiệu.  Tuy rằng hiện tại trên thị trường dược liệu thuốc chống nấm rất nhiều, nhưng những thứ thuốc đó đa số là độc và đều được nghiên cứu để chữa trị những bệnh nấm thông thường không có đủ sức mạnh tiêu diệt các tế bào ung thư và siêu vi như HIV.  Như vậy nếu coi việc tìm ra nguồn gốc siêu nấm của ung thư và bệnh siêu vi là một chiến thắng đầu tiên thì chiến thắng cuối cùng phải là công việc nghiên cứu những thứ thuốc chống siêu-vi-ung-thư-nấm có hiệu lực tiêu diệt siêu vi và những tế bào ung thư sẽ là một chiến thắng cuối cùng giúp cho cơ thể khỏe mạnh lâu dài.

Chúng ta cũng cần quan tâm đến nội môi trường thuận tiện cho việc đề kháng và chống lại sự phát triển siêu nấm.  Đó là một nội môi trường kiềm (kiềm), nó thường có tính chất của thần kinh đại giao cảm (dương) giao cảm hưng phấn (sympathicomimétique).  Tùy người, nó có thể gây ra khó chịu cho cơ thể.  Chính môi trường nầy phát động những biến chứng phụ, coi như là độc đối với cơ thể.

So sánh với những biến chứng phụ trong các hóa chất trị liệu và thuốc chống nấm trị liệu, thì những chất dùng trong hóa chất trị liệu ung thư hiện tại cũng có rất nhiều chất trị nấm nhưng độc dược của nó thật là quá cao, nó giết hại cơ thể quá nhanh trước khi ung thư tàn phá cơ thể.  Nhưng với sự hiểu biết về nguồn gốc nấm, thì trong tương lai gần chắc chắn sẽ có những thuốc chống siêu nấm nhẹ nhàng, mau chóng, hiệu quả.

Số lượng các siêu vi và bà con gần của nó, nhất là những loại sơ khai nhất thật là vô vàn trong không khí và trong cơ thể con người, chúng lại đột biến không ngừng để sinh những siêu vi mới độc hơn. Chúng tôi nghĩ rằng siêu vi càng hạ cấp tức nhóm siêu-thể (plasmides) và siêu-chuyễn-thể (éléments génétiques transposables) là những loại mãnh liệt nhất, khó tiêu diệt nhất, nếu không có nhiều nghị lực và kiên trì trị liệu thì khó lòng tiêu diệt chúng được.

Kinh nghiệm trị liệu cho thấy những ung thư do những loại cực siêu-thể và cực vô-chuyễn-thể đột biến tế bào cơ thể thành ung thư đòi hỏi một sự trị liệu đặc biệt tốn kém nhiều tài chánh, mất nhiều thì giờ công phu.  Tuy nhiên với ung thư hiện tại do siêu vi và cực siêu vi tạo nên, những thứ thuốc hiện nay vẩn có  khả năng tiêu diệt chúng.

Dù sao thì đề phòng ung thư trước khi ung thư hoàn toàn chưa xuất hiện vẩn là điều quí nhất. Cũng cần hiểu rằng ai trong chúng ta cũng có những mầm ung thư sinh ra liên tục trong cơ thể. Vậy nên phải nghĩ đến cách đề phòng ngay đừng đợi chờ, nhất là những  người cao tuổi. Chúng tôi xin sẽ đề cập vấn đề phòng vệ thật rộng rãi hơn bất cứ chương nào trong bài nầy sau đây.

Trước đây chúng tôi đã dùng thuốc chống nấm để trị ung thư, rồi theo lập luận qui nạp mà chứng minh ung thư có nguồn gốc nấm.  Nay việc trị ung thư chỉ còn là vấn đề lựa chọn thuốc chống nấm hoặc hợp chất chống nấm hiệu quả nhất.  Và đặc biệt là phải luôn luôn cần quan tâm phát triển sức đề kháng của cơ thể.  Việc nâng cao sức đề kháng của cơ thể sẽ giúp thuốc có sức trị liệu hiệu quả hơn vì có sự phối hợp mạnh mẽ tối đa để tận diệt tế bào ung thư và siêu vi.

Chúng ta không thể hy sinh lực lượng trị liệu quí báu là sức đề kháng của cơ thể vì thuốc.  Người ta đã chứng minh rõ ràng rằng bứu hiền tử cung có thể biến thành ung thư hay không, điều này hoàn toàn tùy thuộc vào đời sống hạnh phúc tình yêu vợ chồng có tốt đẹp hay không.  Vì lúc có một đời sống yên vui hạnh phúc, sức đề kháng và tính miễn nhiễm của cơ thể gia tăng gấp bội và tế bào ung thư sẽ tự động bị cơ thể bệnh nhân tiêu diệt dễ dàng.  Ngược lại, khi sức đề kháng sút giảm, bịnh gia tăng.  Vậy dù trong hoàn cảnh nào, chúng ta phải gia công bảo vệ sức đề kháng và tính miễn nhiễm của cơ thể.  Nếu cần chúng ta cần tránh chất hóa học độc hại làm tê liệt sức đề kháng và miễn nhiễm.  Chúng ta không thể để các tế bào cơ thể bị đánh ngã gục trước các tế bào ung thư vì hóa trị, vì đó lá cách chữa trị tiêu cực.

Trong lúc chờ đợi những thuốc chống siêu nấm có hiệu quả nhanh chóng hữu hiệu hơn, chúng tôi bắt buộc phải dùng những thứ sẵn có.  Đồng thời chúng tôi cũng đã nghiên cứu nhiều thuốc thiên nhiên tạo nên nột nội môi trường hổ trô chống ung thư và bệnh siêu vi nấm chẵng những vô độc hại mà chúng lại có khả năng trừ khử mọi độc hại do ung thư và độc chất của các thứ thuốc hóa chất gây nên.  Ở đây chúng tôi tạo nên một nội môi trường kiềm có khả năng hổ trợ thuốc chống nấm, có sức liên minh tiêu diệt kẻ thù.  Phương pháp liên minh cho tỷ số thành công cao hơn rõ rệt.

Chúng tôi rất vất vả với những bệnh nhân đã kinh qua hóa học trị liệu.  Ai cũng biết hóa học trị liệu chỉ kéo dài đời sống chứ không trị lành ung thư, mà lại làm cho cơ thể bệnh nhân đau đớn, điêu tàn.  Sau hóa học trị liệu, tế bào ung thư  đã kinh qua nhiều đợt tập dượt với hóa chất độc, sức mạnh chúng gia tăng, cơ thể lại trở nên tồi tệ.  Vì vậy khi đã kinh qua hóa trị, việc trị liệu trở nên khó khăn và tỷ lệ thành công kém hơn.  Trong tình hình hiện tại,  bệnh nhân đến với chúng tôi ở vào giai đoạn cuối lúc bệnh viện đã khước từ.

Nhiều bác sĩ cho rằng trong lá cây có nhiều chất độc.  Chúng tôi không dùng những lá cây độc, chỉ dùng những lá cây ăn được như rau cải.  Hơn nữa lá cây đa số có tính kiềm, là chất mà cơ thể chúng ta cần hằng ngày, đó cũng là những phân tử sinh vật hợp với bản chất tế bào (partenaires normaux).  Trong lúc đó hóa chất  là yếu tố phản bản chất sinh vật của tế bào (partenaires anormaux) lại quá độc.

Sở dĩ chúng tôi quan tâm đến dược liệu thiên nhiên ăn được là để tránh cho cơ thể những chất độc bất ngờ có thể gây rối loạn sự chuyển hóa bình thường của tế bào, ảnh hưởng đến các chức năng sinh tử thiết yếu.  Những lá cây thiên nhiên không độc đem vào trong tế bào rất nhiều chất liệu sinh học quen thuộc, có thể vừa có một ít độc tố nhỏ nhưng lại vừa có nhiếu yếu tố giải trừ độc tố và bồi dưỡng.  Nên những độc tố nhỏ của thực phẩm chức năng trở nên không có nghĩa lý gì, không có sức tác hại tế bào cũng như rau cải trái cây chúng ta ăn thường ngày vậy.  Các chất lá cây giúp cơ thể có một nội môi trường kiềm, thích hợp cho việc trị liệu với thuốc chống nấm, chúng còn có sức giúp phục hồi chức năng dinh dưỡng tế bào; đặc biệt là trong việc giúp tế bào cơ thể sửa sai lại sự chuyễn hóa tốt lành của tế bào cơ thể đã bị phá hoại từ trước.  Đó là chân-hóa tế bào (Eumétabolisme cellulaire).  

Cuối cùng, một yếu tố quan trọng trong việc chữa trị ung thư là việc điều hòa hệ thần kinh giao cảm.  Cần áp dụng vào trị liệu phương pháp đề phòng có khả năng gia tăng sức đề kháng và tính miễn nhiễm.  Thường lúc cảm thấy lành hẳn bệnh, trong cơ thể thường vẩn còn sót lại nhiều tế bào ung thư, vì thế việc tái phát rất dễ xẫy ra.


XIX-  Sơ lượt về đề phòng bệnh ung thư và bệnh siêu-vi :


Đề phòng không phải siêng năng đi khám bệnh, đi thử nghiệm xem đã bị ung thư chưa? Như vậy thì không còn là dề phòng.  Cũng không phải được chẩn đoán bệnh sớm.  Phòng bệnh là phải sống thế nào để ung thư và bệnh siêu vi khó xẩy ra.  Phương pháp phòng bệnh dựa trên cách sống và dinh dưỡng để tăng gia sức đề kháng.  Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất để ngừa ung thư và hầu hết các bệnh siêu vi khác. Chính vì thế mà chúng tôi dài dòng chương nầy. Nó đòi hỏi chúng ta phải khổ công thi hành.

Dưỡng khí : Cung cấp dưỡng khí (Oxygène = O2)  đầy đủ cho từng tế bào để nó đốt cháy chất dinh dưỡng, và độc tố.  Dưỡng khí giúp tế bào tiêu diệt siêu vi và vi trùng.  Thiếu dưỡng khí tế bào yếu ngay, hệ thần kinh thương tổn và do đó sức đề kháng suy sụp. Trong võ nghệ và tu hành người Á đông đặt nặng luyện tập hơi thở, hay khí công.  Dưỡng khí trong sạch là một môn thuốc bổ dưỡng cao cấp nhất mà tạo hóa dành cho sự sống.

Thức ăn : Không phải ăn những chất bổ dưỡng là tốt cho cơ thể, nên ăn vừa đủ, ngon miệng.  Ăn không hợp khẩu kéo dài sinh bệnh.  Ăn ngon còn làm cho hệ thần kinh giao-cảm rung chuyển điều hòa khiến sức đề kháng gia tăng.  Cơm chẵng lành canh chẵng ngon là yếu tố làm mất hạnh phúc gia-đình.  Vì nó là hạnh phúc của tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh.  Bộ tiêu hóa giữ một chức năng quan trọng, không những đối với việc tiêu hóa và dinh dưỡng mà còn đối với mọi hoạt động của hệ thần kinh giao cảm (système nerveux autonome) và cả hệ thần kinh trung ương (système nerveux central).  Sự cân bằng và thoái mái của hệ thần kinh làm sức đề kháng và tính miễn nhiễm gia tăng mạnh mẽ.  Ăn uống không làm mệt bộ tiêu hóa và sự chuyễn hóa (métabolisme) của cơ thể và của tế bào đem lại sức đề kháng và tính miễn nhiễm vững vàng.  Những cách ăn uống và thức ăn tốt xấu tùy thuộc cơ thể từng người.  Người âm thịnh cần ăn chất dương nhiều hơn, và ngược lại.  Sự cân bằng âm dương tức là sự điều hòa thần kinh giao cảm là yếu tố quan trọng làm gia tăng sức đề kháng của cơ thể.

Nước : Cơ thể cần nước, cần uống nhiều nước. Phải tập thích uống nước trong, nước trái cây tươi, nước lá cây để đề phòng bệnh tật.  Nước  rữa sạch mọi độc tố trong lòng tế bào.  Nó giúp thận làm việc khỏe.  Uống nước nhiều giúp hệ tuần hoàn làm việc gia tăng vượt bậc.  Từ đó tình trạng của các bộ phận khác đương nhiên được nâng cao.  Nhưng uống nước nhiều cũng rất khó chịu, nhiều khi muốn ói, vì vậy nên cần tập.  Chung chung ngày nên uống từ 1 lít rưởi đến 2 lít nước.  Người ta thích uống rượu, cà phê là 2 chất đại độc cho cơ thể.  Nếu uống nhiều rượu, tế bào gan bị phá sinh ra đủ triệu chứng cho cơ thể vì gan có nhiều chức năng quan trọng. Đừng tưởng bia nhẹ, uống nhiều bia cũng độc như rượu.  Cà phê độc hại bộ phận thần kinh do chất cà-phê, nó còn độc nhiều hơn do sự cháy khét làm tăng chất kích động, sinh ung thư.  Nước trà tươi, trà hột, tương đối ít hại.  Trà ngon thơm ướp nhiều chất độc hại thần kinh.

Nên đắm mình vào dòng nước sông nước biển, hồ bơi, hay dưới vòi rồng !   Dòng nước và xà phòng cuốn trôi cặn bất vi trùng trên da thịt.  Nó cũng cuốn trôi những ưu tư phiền lụy trong não bộ.  Kỳ cọ càng nhiều càng tốt.  Hãy tự coi như mình rất dơ bẩn, từ lâu không tắm.  Dòng nước và những kỳ cọ làm điều hòa hệ thần kinh và tim mạch.  Khi chúng ta tắm làm cường độ máu chạy gia tăng, thần kinh điều hòa, trí não thư giản, các tuyến nội ngoại tiết gia tăng hoạt động (khi cần thiết cần tắm nước nóng, càng nóng càng tốt). Tắm nước thật nóng là một phương pháp trị bệnh.  Dù bệnh hoạn hay đang kinh kỳ việc tắm rửa luôn cần thiết.

Vận động cơ thể và nghị lực : Trạng thái sinh sống, và sinh lý tế bào cơ thể có khả năng chống lại những tác động xâm phạm sự sống.  Nó tự chấn hưng rất tài tình những thương tật xẩy đến trong những điều kiện bình thường.  Tế bào sản xuất những yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động phòng vệ.  Để tăng gia sức mạnh thiên nhiên chúng ta cần hổ trợ tế bào, đừng phá hoại chúng tội nghiệp, nhất là với tế bào gan do rượu, tế bào thần kinh do ưu tư buồn phiền.  Từ ngàn xưa người ta đã biết khổ công luyện tập đề phòng bệnh.  

Nghị lực là một sức mạnh mới.  Nghị lực nâng cao hoạt động não bộ.  Nghị lực làm thay đổi mọi hoạt động các tuyến nội tiết trung ương đem lại sức đề phòng dồi dào cho cơ thể.  Nghị lực đưa máu, các chất dinh dưỡng và dưỡng khí đến các tế bào sung mãn và các chất phế thải được mau chóng tải đi. Nghị lực kích động các bạch huyết cầu tiêu diệt kẻ thù dễ dàng.  Những cách trợ giúp cơ thể tự động đề phòng rất đa dạng.  Từ tập thể thao, tập võ nghệ, tập tạ, chơi thể thao, bơi lội, đua thuyền đến tập yoga, tài chi vv... đều tốt.  Nhất là đối với những người làm việc bàn giấy, mổi ngày cần để ra 10, 30 phút tập vận động cơ bắp.  Những loại vận động thể thao ở đây là sinh-lý vận-ngoại (activités physiologiques externes).

Còn một thứ vận động cao hơn mà chúng tôi gọi là sinh-lý vận-nội (activité physiologiques internes).  Người Á đông đề cao môn nội công, đó là một hình thức võ nghệ của sinh-lý vận-nội. Trong người chúng ta có những cơ quan thuộc ý chí, như bắt thịt, xương vv. Có những cơ quan khác như lục phủ ngủ tạng không điều khiển được. Tuy nhiên nhờ vào rất nhiều mối giao thoa (anastomoses) liên hệ giữa các giây thần kinh, ý chí của chúng ta có thể làm máu về những cơ quan không thuộc ý chí.  Nếu trí tuệ hoạt động thì các mối giao thoa càng phát triển.  Sinh-lý vận-nội dùng nghị lựa để gia tăng sức mạnh các cơ quan và ý chí để thành đạt.  Cơ thể vận sức bất cứ cơ quan nào trong cơ thể, cơ quan đó sẽ hoạt động mạnh.  Nếu toàn cơ thể đều gồng lên thì sức đề kháng gia tăng.  Tập như vậy, cơ thể sẽ có thói quen ở trong một tình trạng hưng phấn thường xuyên.  Tế bào mạnh sinh cơ thể mạnh tránh được mọi dục vọng, siêu vi khó lòng xâm lăng.

Thần kinh thoải mái: Nghị lực cần đánh tan mọi ưu tư, buồn phiền, stress, uất hận, hiềm thù, ganh ghét, tham lam, dục vọng.  Những cảm xúc vui vẻ là thuốc bổ tốt nhất, đổi mới cơ thể, tăng sức sống kỳ diệu.  Trí não thư thái, khỏe, máu có dồn tới, nó lãnh đạo cơ thể tốt lành.  Tiềm lực của trí não rất cần cho tính bền bỉ của sức đề kháng và tính miễn nhiễm, đó là phương thức cãi lão hoàn đồng hữu hiệu.  

Từ sinh ra đến già số tế bào thần kinh chỉ có suy thoái.  Cần ép buộc tế bào thần kinh hoạt động để bảo vệ chúng. Nếu tế bào thần kinh hoạt động, nó phát triển (phát triển chứ không phải sinh thêm).  Tế bào thần kinh gồm thân, từ  thân mọc ra một nhánh lớn gọi là sợi-trục (axone) rất dài có khi hơn một thước (Hình XXV).  Sợi-trục là sợi thần kinh đưa tin đi.  Cuối sợi-trục chia ra chùm-sợi-râu.  Ngoài sợi-trục, xung quanh tế bào thần kinh lại có nhiều sợi-râu-ngắn (dendrites).  Những sợi-râu-ngắn (Hình XXV) là những sợi nhận tin từ chùm-sợi-râu của sợi-trục của tế bào thần kinh khác đưa tới (Hình XXVI). Tế bào thần kinh chỉ có thể mọc thêm những  sợi-râu (dentrites) nhận tin,  hay chùm-sợi-râu cuối sợi-trục.  Những người làm việc trí tuệ, sáng tạo, nghiên cứu, khi tuổi cao thì số sợi-râu phát triển.  Nhờ vậy những giao thoa (anatomoses) giữa các tế bào ngày càng giàu thịnh giúp cho trí tuệ thông minh khác với óc não lười nhác.  Những sợi-râu này (dentrites) rất quí, nó giúp trí não sức bù vào sự thiếu hụt lúc tế bào thần kinh gặp thương tổn hay thoái hóa.  Trí não không hoạt động, những sợi-râu sẽ suy thoái.  Vậy làm việc bằng trí tuệ là một điều rất quí để bảo vệ sức khỏe.

         

Cảm xúc : Cười không mất tiền mua mà làm tăng tuổi thọ và lợi lộc. Những người hài hước được mến mộ khắp nơi.  Những ông chồng có tính tếu thường làm cho vợ vui thích, dễ yêu họ hơn và xóa đi những cuộc cãi vã nguy hiểm.  Cười với tâm hồn cởi mở tăng gia sức khỏe.  Biết cười thì chúng ta biết xây dựng mối quan hệ giữa con người, vợ chồng, cha con, mẹ con, anh chị em, bạn bè....  Có cười mới có quan hệ yêu thương.  Cưu mang hận thù là nổi đau khổ tinh thần gây đau khổ các tế bào, vô cùng nguy hiểm cho cuộc sống.  Thương mình, thương người xóa bỏ bất hòa biết nói cám ơn và xin lỗi là nguồn sống vui, đó là tiếng vang vọng lớn của nhân phẩm con người.  Xây dựng tình yêu là mối hạnh phúc.  Hiếm có gia đình nào, cha mẹ con cái nào, anh chị em nào, vợ chồng nào mà không cãi vã, nhưng nhịn nhục tha thứ mới là con người nhân hậu, biết giá trị yêu thương.

Còn khóc thì sao? Thường dư luận cứ nghĩ khóc chỉ dành cho phái nữ.  Trái lại khóc khi cần khóc là quí.  Khi bị xúc động, khi đau đớn trong tâm hồn nước mắt ứa ra.  Nước mắt chảy diễn tả tiếng nói sâu kín mãnh liệt nhất của tâm hồn.  Nước mắt cũng chảy vào máu đưa đi khắp cơ thể, kích thích mọi tuyến nội và ngoại tiết, làm gia tăng sức đề kháng và tính miễn nhiễm.  Nước mắt tượng trưng tình cảm, lòng nhân ái. Nước mắt cũng như nụ cười làm giàu thịnh tâm hồn.  Khi ta gặp chuyện đau buồn, lập tức hệ thần kinh đại giao cảm (système sympathique) bị suy vi trầm trọng, tình trạng trụy cơ xẩy ra, các cơ bắp rã rời, máu chạy chậm lại, tim đập yếu đi, các tuyến nội tiết ngưng hoạt động.  Nếu tuyến nước mắt chủ động bùng mạnh lên, kích thích hệ thần kinh, hệ thống nội ngoại tiết. Lập tức cơ thể sung mãn, tinh thần hưng phấn.  Khóc là một sự bùng nổ sung sướng, kích động sự điều hòa cơ thể.  Nước mắt làm gia tăng máu nuôi và tẩy độc tố não bộ.  Người ta thường nói ‘phớt tỉnh Ăng-lê’ ý nói tính người Anh lạnh lùng, vậy mà một câu ngạn ngữ Anh nói "Người có đôi mắt khô, lòng họ như sỏi đá".  Trẻ con khóc để biểu lộ một điều gì cần thiết để sống.  Người ta nói ‘thỉnh thoảng  nên khóc để tống chất dơ trong mắt’, nhưng thật ra khóc có khả năng tống chất bẩn trong cơ thể và tâm hồn làm gia tăng sức miễm nhiễm đến kỳ diệu.

Tâm-lý : Tình yêu lứa đôi vừa làm cho con người có hạnh phúc vừa làm cho họ phải đau thương.  Gặp tình yêu và hạnh phúc là chuyện hiếm hoi.  Thường, hôm nay hạnh phúc mai là thương đau.  Bất hạnh hơn cả là sự phản bội.  Nó là nguồn gốc của mọi suy sụp tồi tệ, làm mất sức đề kháng và miễn nhiễm.  Đau khổ không phải ở tình yêu mà thôi, nó còn có nguyên nhân khác, nó len lỏi trong trăm ngàn ngách ngả vào cơ thể.  Những ước mơ về sắc đẹp, công danh, tiền tài vật chất, những tham vọng, ganh tị, hận thù, tham lam, những mất mát, bị vu khống, bị xúc phạm, ưu tư, lo lắng buồn phiền, trái ý nghịch lòng vv. đều là những nguyên nhân gây nên bao đau khổ. Đau khổ có lúc làm thần kinh căng có lúc đè bẹp. Trong hai trạng thái hưng lên cũng như đè xuống đều có cái tốt và cái xấu. Chúng ta thữ nghiên cứu 2 trạng thái tốt xấu nói trên.

Ví du về tình trạng hưng phấn xấu : Một đứa bé ước mơ có chiếc xe đạp, bất ngờ được cha mẹ cho, nó hưng phấn lên vì vui thích.  Đột nhiên một đứa bạn xấu đến cướp xe nó chạy mất, nó cũng hưng phấn tức uất lên nhưng đau khổ vô cùng. Đó là hưng phấn xấu và tốt.  Ví dụ về thần kinh hạ thấp: Một người làm việc căng, về nhà nhảy vào bồn nước nóng tắm, xong nghe nhạc dịu dàng, lòng êm dịu. Một sinh viên học giỏi đi thi, bằng lòng về bài thi, bất ngờ hay tin thi rớt, đau khổ.  Đó là trạng thái thần kinh hạ thấp tốt và xấu (bon état parasympathicomimétique, mauvais état parasympathico-mimétique).  Trường hợp tốt gọi là êm dịu, xấu gọi là suy nhược.  

Hai trạng thái thần kinh âm dương nói trên cùng cuội nguồn, nhưng tại sao hậu quả hạnh phúc tâm hồn lại khác :  hân hoan sung sướng hoặc tức uất, và êm đềm vui vẻ hoặc suy nhược ê chề ?  Lúc thần kinh âm hay dương tốt, tức những sóng vận chuyễn các giao thoa (anastomases) hệ thần kinh trở nên nhu thuận hay hưng phấn nhịp nhàng điều chĩnh mọi rắc rối nên nó cho những cảm xúc tốt.  Đó là nguyên nhân vì sao kẻ hạnh phúc, thành công thường trẻ đẹp, khỏe mạnh. Vì vậy sự điều hòa hệ thần kinh trong mọi hoàn cảnh vô cùng quan trọng. Ngược lại lúc thần kinh âm hay dương xấu, tức hệ thần kinh bị mất thăng bằng, mất đều hòa, những sóng vận chuyễn xáo trộn giao thoa thần kinh mất chính xác làm trí tuệ mất thăng bằng, sức đề kháng bị xáo trộn khiến người gặp đau thương sinh ung thư và mọi bệnh siêu vi.  Khôn ngoan và kinh nghiệm dạy ta luyện tập tính tình để luôn bình an trước nghịch cảnh và không gia hại sức đề kháng.


XX - PHẦN KẾT :

Bao nhiêu phương pháp tuyệt vời và hiện đại để trị ung thư suốt gần 50 năm nay, cũng đã đem đến cho nhân loại nhiều nguồn an ủi, kéo dài đời sống và trong những trường hợp cục bộ đã thành công chữa trị với một tỷ lệ khá cao.   Nhưng như các nhà khoa học Hoa Kỳ đã nói rất tiếc nguồn gốc ung thư chưa biết được nên mọi phương pháp trị liệu chỉ có tính cách chữa ngọn (traitement palliatif) và tạm thời.  Trong lúc đó khoa Sinh-học phân tử của tế bào đã phát triển huy hoàng với kính hiển vi điện tử, chúng ta cần lợi dụng những phát triển đó cho Y-học.

Những phát triển về kỹ thuật chẩn bệnh, kỹ thuật giải phẩu, phát triển về X-quang, đồ hình cắt lát (scanner) và tin học cùng kỹ nghệ thuốc hoá chất phong phú cũng chưa thật sự làm thuyên giảm toàn bộ tai họa do ung thư gây nên. Tuy không trị lành ung thư, chúng ta cũng phải công nhận đã có sự thuyên giảm bệnh ung thư và kéo dài sự sống một cách tương đối tốt trên thế giới.  Sự thuyên giảm kéo dài đó đã đạt được đến khoảng 30%.  Nhiều thành công đã được ghi nhận.  Sự tàn phá do ung thư cũng đã được ngăn chặn cho nó chậm chạp lại.  Dược liệu được dùng dễ dàng hơn, đem lại được một số thành công không nhỏ tuy chỉ là sơ sài và tạm bợ.  Hiện tại trên thế giới, khí giới chống ung thư hiệu quả nhất vẩn là đề phòng và giải phẩu.

Nhiều phương pháp cải cách tưởng như thành tựu nhưng rồi chẵng đưa đến đâu.  Nhiều khám phá mới của nhiều phòng thí nghiệm đã được các cơ quan thông luận lên tiếng hoan hô, rồi tiếc thay cũng chìm trong quên lảng.  Từ 35 năm nay, thứ thuốc được chú trọng nhiều nhất vẩn là Ciplastine, và mới đây là Taxol (Taxoltère).  Nhưng các thứ thuốc này cũng không mấy hiệu nghiệm.

Chúng tôi tự hỏi tại sao với bao công trình nghiên cứu vĩ đại của Y-học và Sinh vật học, mà vẩn không đem đến được một kết quả nào có tính cách thuyết phục hơn ?  Hơn nữa tế bào ung thư ngày càng mạnh càng có khả năng chống đối quyết liệt hơn đối với các thứ thuốc chống tế bào ung thư.   Vì thế diễn tiến của ung thư là điều không thể tránh.  Vì thế dù công lao Y-khoa và Sinh vật học đã bỏ ra vô vàn mà cũng chẵng đem lại ích lợi thực tế bao nhiêu.

Miễn nhiễm trị liệu cũng đã được dùng để trị ung thư, nhưng như trên đã nói, sức khỏe suy yếu kéo theo sự sa sút về tính chất miễn nhiễm của cơ thể.  Và tình trạng sa sút nầy là cơ hội thuận tiện cho siêu vi hiền biến ra độc hại.    Trong tương lai gần, chắc người ta phải phát triển một chuyên khoa mới để có thể giải thích về những yếu tố tâm lý thần kinh miễn nhiễm là nguyên nhân phát triển ung thư và các bệnh siêu vi.

Trong phong cách ngày nay, người ta dùng yếu tố trung gian (thường là một siêu vi) mang một nhiễm sắc thể với tính chất di truyền mới của nó, có khả năng ngăn chặn sự sinh sản của tế bào ung thư.  Nhưng phương pháp nầy rất khó thành công.  Vì trong một ung thư có biết bao nhiêu dạng siêu vi đột biến liên tục thành những tế bào độc hại có liên hệ trực tiếp đến vô vàn nhiễm sắc thể.  Như vậy khó lòng đưa thêm nhiểm sắc thể vào nhân tế bào ung thư để ngăn chặn sự sinh sôi nẩy nở của nó.  Thành thử đây chỉ là một thí nghiệm có rất ít hy vọng thành tựu trong cơ thể con người.

Trong khuôn khổ sinh-lý ung-thư bệnh-học, có lẻ chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến nguyên nhân gây ung thư và các bệnh nan y, nan trị.  Vì một khi biết rõ nguồn gốc bệnh thì việc trị liệu mới có khả năng trị tận gốc.  Như thế nếu, chúng ta cần đánh giá biết bao yếu tố, cần nghiên cứu biết bao hiện tượng, cần chứng minh biết bao lý thuyết, thì vấn đề biết rõ nguồn gốc của ung thư và các bịnh nan y phải là vấn đề tiên quyết.

Trong hoàn cảnh nầy, với thiện chí dè dặt chúng tôi xin đóng góp một khám phá mới về nguồn gốc nấm của siêu vi và của ung thư.  Tức là khám phá mới về một hiện tượng đột biến của cực-siêu-vi-nấm thành tế-bào ung-thư-nấm.  Chúng tôi mong rằng khám phá trên sẽ được nghiên cứu thí nghiệm rộng rãi, vì nó chẵng hao tốn gì, trái lại nó đưa đến một trị liệu tổng quát (traitement général) phù hợp với cơn bệnh ung thư tổng quát .

Khám phá trên có thể là một mặc-khải giải quyết biết bao vấn đề trị liệu nam giải của nhiều thứ bệnh do siêu vi và ngay cả những bệnh mà nguyên nhân hoàn toàn không biết, không giải thích được hoặc giải thích một cách tiêu cực, như vấn đề cholestérol đóng trên thành động mạch và tĩnh mạch ở những người gầy, thiếu dinh dưỡng !

Chúng tôi hy vọng rằng tuy sự khám phá ra nguồn gốc nấm của siêu vi và của ung thư của chúng tôi chỉ đặt trên những quan sát, lý luận và thực nghiệm lâm sàng, nhưng nó là một sự thật.  Nó sẽ không bị lãng quên.  Nó sẽ được mọi sự giúp đở nối tiếp trong tương lai gần với thuốc chống nấm trị liệu để có thể đi dần đến chổ hoàn chỉnh.

Chúng tôi, trong một hoàn cảnh đơn độc, khó khăn, cá nhân, thiếu thốn về tất cả mọi phương diện. Chúng tôi chỉ muốn trình bày khám phá về một hiện tượng sinh lý ung thư cùng một số thành quả hiện vẩn còn khiêm tốn về tế bào ung thư nấm sống ký sinh trong thân xác con người.

Đó là một sự chứng minh về nguồn gốc hay căn cước của tế bào độc hại ung thư. Những tế bào nầy hoàn toàn là những sinh vật độc bào, sống riêng rẻ ký sinh vào cơ thể, sinh sản độc lập, phát triển tự do, không hề biết tuân theo mệnh lệnh nào của cơ thể. Chúng hoàn toàn khác biệt với sự sống tế bào cơ thể có qui tắc trật tự.

Với sự trình bày khám phá nầy, chúng tôi mong đưa ra một đường lối trị liệu hầu như không độc hại, ít tốn kém, rất thiết thực, hợp lý và rõ ràng, còn dễ dàng hơn là việc trị bệnh ho lao. Với đường lối trị liệu như vậy tức là chúng ta không còn phải điều trị mơ hồ một căn bệnh thật là hung dữ mà hoàn toàn không biết đối thủ của mình là gì, là ai. Rõ ràng đối thủ của chúng ta có căn cước hẳn hoi, chúng không còn là vi trùng hay cực siêu vi cũng không hẵn là nấm thuần túy mà là một loại nấm được mang trong thân xác nó phần  ‘gen’ của con người.

Trong trận chiến ác liệt chống ung thư, Liệt kháng/AIDS/SIDA và các bệnh do siêu vi mà người ta thường cho rằng không biết gì về nguyên nhân và trị liệu (ví dụ bệnh thần kinh và tâm thần), nhất định chúng ta không thể thua.  Trước nhất chúng ta không thể thua ung thư, siêu vi về kiến thức hiểu biết căn cước của nó. Bởi vì suốt trêm nửa thế kỷ nay biết bao công trình khoa học dồn dập, xây đắp làm những nấc thang đưa chúng ta đến chổ hiểu biết rõ ràng hơn về nguồn gốc của ung thư để có thể tiêu diệt chúng tận gốc rể.

Trước mọi kiến thức về ung thư cần thiết cho việc trị liệu, không biết đích danh lý lịch của thủ phạm ung thư, chính là một chướng ngại vật to lớn cho mọi chữa trị. Một thiếu sót lớn lao của Y-học hiện đại. Trong hoàn cảnh nầy chúng tôi đề nghị chúng ta thử  thay tay súng, thử thám hiểm những chân trời mới, thử lắng nghe những suy luận mới, một lý thuyết mới. Hãy thữ thí nghiệm khám phá mới của chúng tôi, một đuờng lối chữa trị dễ dàng mau chóng, ít tốn tiền hơn là những phươnh pháp hiện hữu.

Ngày nay, tuy Y-khoa đã có kỹ thuật tìm ra ung thư sớm sủa, đó là một điểm son lớn. Nhưng phải chăng biết đích xác kẻ thù từ đâu đến, là ai, bản chất nó ra sao là điều kiện thiết yếu quyết định nhất để tìm ra phương pháp tiêu diệt nó ? Cũng như vậy, khi đã biết nguồn gốc ung thư và cách thức nó đến xâm lăng cơ thể con người, chúng ta cố công tìm cách chế ngự sự xuất hiện của nó.  Đề phòng nó một cách đúng nghĩa và tích cực.

Như vậy đề phòng ung thư có lẻ là sự  thắng trận thứ hai đối với ung thư, sau chiến thắng đầu tiên là hiểu biết về căn cước của nó. Và chắc chắc chiến thắng cuối cùng là nghiên cứu những thứ thuốc chống ấm, chống siêu nấm hiệu lực và vô độc cho cơ thể để tiêu diệt ung thư và các bệnh siêu vi.  Các bệnh có nguồn gốc siêu-vi-nấm sẽ không còn là vấn đề chống, chữa trị tạm bợ đối với chúng ta nữa.  Hy vọng rằng sự thành tựu ở mức độ cao và rộng một ngày gần đây trong việc chiến thắng ung thư sẽ chẵng khác nào niềm vinh quang trong việc dùng những trụ sinh tiêu diệt mọi chứng bệnh do vi trùng ?  <>

Montréal 21/1/1992

Bác-sĩ Tiến-sĩ  Nguyễn Thị Thanh MD.PhD.
Montréal 2004

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét